Archive for the ‘Truyện’ Category

Ngày đầu tiên nhập trường cũng là ngày hành xác




Tươi Cười hớn hở


Ăn uống no nê








Tập hợp

Được mời đi dao trường


Chạy lẹ lên, lẹ lên anh

Bơ Phờ




















Tám tuần huấn nhục, Trường VBQGVN

Trong 2 tháng huấn nhục các Tân Khoá Sinh không được tiếp xúc với một ai ngoại trừ các Cán Bộ trực tiếp huấn luyện




















http://nguoivietnamchau.com/

Bi hài kịch vào đảng… ra đảng | Tô Hải


HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN

Tô Hải

BI HÀI KỊCH VÀO ĐẢNG… RA ĐẢNG:

5 NĂM
ĐÓNG KỊCH VÀ DỐI TRÁ

Quá trình bỏ trốn, hay vượt ngục, của tôi khỏi cái
tổ chức Đảng là vở kịch bi hài kéo dài nhiều năm có thể tóm tắt
những trường đoạn kịch bản như sau:

Năm 1953-1954, sau những cái tát tỉnh người, tôi đã
có tư tưởng phải bỏ ngay hàng ngũ những kẻ đầy nợ máu với nhân dân,
những kẻ đã làm hỏng cuộc đời tôi, biến tôi thành tên đầy tớ hèn
nhát, chuyên ngợi ca hành động phản nước, hại dân của chúng. Nhưng
chuồn khỏi hàng ngũ chúng bằng cách nào?

Thật nát óc!

Bố mẹ vợ tôi lúc ấy đang bị đấu tố trong cải cách
ruộng đất đợt 2 vì tuy không có ruộng đất nhưng “có vẻ giàu” nhất
làng nơi tản cư nên bị “đôn” lên thành địa chủ. Tôi đang lo cho số
phận vợ chồng tôi liệu có bị triệu về địa phương để bị đấu tố hay
đấu tố cha mẹ hay không thì… đoàn văn công của tôi được Tổng Cục
Chính Trị điều đi phục vụ chiến dịch Điện Biên.

Thế là tôi thoát khỏi cái địa ngục Liên Khu IV.

Dọc đường đi bộ hàng tháng trời lên Việt Bắc, tôi gặp
hàng đoàn dân công, xe thồ, vừa đi vừa hát hò, hồ hởi phấn khởi vì
“quê nhà đã hoàn thành cải cách”,
đánh đổ địa chủ cường hào, ác
bá. Tôi được xem cả những cuốn phim đen trắng, những bức ảnh trong
đó các ông già, bà mẹ răng đen miệng cười tươi rói đang đi đóng cọc,
cắm biển chia ruộng có ghi tên Nguyễn Thị Mít, Trần Thị Tèo… hẳn
hoi. Khí thế rần rần ra mặt trận. Hậu phương tiền tuyến đều nô nức
theo các đoàn xe Tàu, pháo Mỹ do Nga mở kho từ thời kỳ chiến thắng
phát xít Đức để lại. Thế là trong tôi, cái máu “nhạc sĩ đảng viên”
lại nổi lên. Ừ, có lẽ đây chỉ là cái sai lầm của một địa phương
thôi, chứ quê hương miền Bắc rõ ràng là cải cách đã đổi đời tất cả.
Khí thế này tôi chưa từng thấy bao giờ. Nó làm tôi như “củng cố lại
lập trường”! Tôi lại lao vào viết. Đủ thứ khẩu hiệu, đường lối của
Đảng lại được “âm nhạc hóa”.

Kết quả: Tôi được tín nhiệm thêm và được bầu vào…
cấp ủy một lần nữa! Sau gần một năm trời được về tập trung cùng 24
đoàn văn công quân đội, được phân công đi chiến dịch Điện Biên thắng
lợi, chúng tôi được giao nhiệm vụ rất sớm: Chuẩn bị tiếp quản Hà
Nội.

Tôi dần dần trở lại thành một nhân vật tên tuổi, được
tặng hết huân chương này đến huân chương khác, lại thành thằng Tô
Hải “tuần chay nào cũng có nước mắt” như ngày nào. Cái miếng đỉnh
chung thời ấy chỉ là đỉnh chung “hão” mà còn có tác dụng thế huống
hồ mấy ông ăn phải bả đỉnh chung… “tiền” như hôm nay! Họ còn nói
gì được ngoài câu “biết công ơn Đảng muôn đời” thể hiện trong những
bài Ca ngợi Tổ Quốc.

Hết chiến dịch Điện Biên, nhận bộ quân phục “của bác
Mao tặng”, một chiếc mũ vải có vành, một đôi giày Tàu, một cái ca
sắt tráng men, cũng “của bác Mao tặng” in hình cờ hai nước “anh em”
đỏ loét, tất cả diễn viên văn công quân đội đều được trang bị tươm
tất để thành ba mũi vào tiếp quản thủ đô, nơi đó, không ít người
chúng tôi đang có gia đình cha mẹ, anh em kẹt lại hoặc…“dinh-tê”.

Đùng một cái, quân lệnh: “Tô Hải trở lại khu IV xây
dựng một đoàn văn công mạnh, phụ trách đầu cầu giới tuyến”. Tôi lại
rơi trở lại mảnh đất hãi hùng mà những cái tát nổ đom đóm mắt của
cải cách ruộng đất đã làm tôi tỉnh người. Nhưng trong cái rủi cũng
có cái may. Tôi không được Trở Lại Đô Thành như bài hát tôi
viết năm 1947 sau bị “dẹp” vì những câu “trong toán quân về đếm
thiếu những ai?”
, hoặc “bao mái tóc xanh quấn vành khăn
trắng”…
thật ra, may nhiều hơn rủi, vì:

— a/ Gia đình tôi không còn ai ở lại Hà Nội để chung
sống với Cộng Sản cả. Một lần nữa, bố tôi lại chọn đúng con đường
của mình, theo cơ quan “địch” vào Sài Gòn!

— b/ Giả sử tôi được về Hà Nội, con đường “tiêu ma”
của tôi sẽ nhanh chóng là cái chắc! Lý do: Tôi sẽ không do dự chọn
con đường của các đảng viên Tử Phác, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, của
“quần chúng” Hoàng Cầm, Phùng Quán… nghĩa là tôi sẽ đứng trong
hàng ngũ Nhân Văn Giai Phẩm xuất phát từ văn nghệ quân đội.

Sự may mắn đã tránh cho tôi phải nhận cái số phận ấy
để mở đầu cho một cuộc sống đầy mưu mẹo trong đó tôi phải đóng vai
trò “đảng viên tiên phong văn nghệ sĩ” duy nhất còn lại ở đất khu IV
lúc nào cũng hừng hực lửa căm thù đối với những người có học.

Lúc này Nguyễn Văn Thương, Nguyễn Văn Tý, Văn Ký, Lê
Yên… đều đã về Hà Nội nên chỉ còn lại một nhạc sĩ là tôi. Dù ở
trong quân đội, tôi cũng được “cơ cấu” vào thường vụ chi hội văn
nghệ khu IV cùng với Xuân Hoàng, Minh Huệ… Vậy là, Đảng đã nuôi
cái Hèn cố hữu của tôi bằng cách trao thêm nhiệm vụ mới, nghe có vẻ
quan trọng nhưng sự thật chỉ là chấp hành nghiêm chỉnh những gì
Tuyên Huấn Liên Khu chỉ thị hàng tháng phải làm.

Để tồn tại ở cái đất dữ này, tôi đã sắm vai hèn sĩ
suốt 5 năm! Tôi lấy lý do cần tập trung vào sáng tác, không nhận bất
cứ chức vụ phụ trách nào trong “đoàn văn công mạnh đầu cầu giới
tuyến”! Mục đích của tôi là tránh mọi trường hợp đối đầu về quan
điểm nghệ thuật với hệ thống chính trị đang thống soái, đang “lãnh
đạo toàn diện”, thậm chí lãnh đạo kiểu mật thám Tây thời xưa đối với
tác phẩm văn nghệ, với văn nghệ sĩ một cách thô bạo.

Có những chuyện không thể tin nổi như chuyện chi bộ
đoàn ra nghị quyết về…bỏ hát bè vì…nghe như…cái chợ, nghị
quyết về phông màn, về…mặc váy hay mặc quần cho nữ, thậm chí chi
ủy đoàn văn công còn ra cả nghị quyết không được đánh các bản nhạc
Tây, không được tập kỹ thuật Tây, bỏ hẳn luyện tập cơ bản ba lê…

Đó là những năm 1955-1956, đoàn văn công quân khu IV
sáp nhập với một loạt đoàn văn công các sư đoàn 304, 308, 371 để trở
thành một đoàn “mạnh”. Trên thực tế đó là sự tập hợp cả trăm diễn
viên…không nghề, hoặc có nghề nhưng “nửa dơi nửa chuột”, tập trung
về khu IV để tăng cường cho phong trào “văn nghệ công nông” ở đầu
cầu giới tuyến. Đứng đầu đoàn văn công này là một bí thư kiêm đoàn
trưởng cực kỳ lưu manh và dốt nát, có tiểu sử là “gác-đờ-co” cho một
đoàn cải lương thời Pháp thuộc nhưng được tên tướng giết văn nghệ
nổi tiếng có tên Hoàng Minh Thi cử về để chỉ đạo văn nghệ.

Giữa không khí luôn luôn nghi ngờ đó, tôi thu mình
lại, cố nén mọi uất ức trước các nghị quyết thậm ngu chí ngu của cái
chi ủy — lúc này không có tôi dù tôi được 99% phiếu bầu nhưng…liên
chi không duyệt — gồm chính trị viên Đồng Ngọc Vân, y tá Nguyễn Đức
Chiểu, quản lý kiêm giữ kho Vũ Văn Phúc, anh nuôi Đinh Văn Mẫn…
Cái “đầu não trí tuệ” này như là được đào tạo ở Bắc Kinh trở về, nắm
trong tay số phận tương lai nghề nghiệp của hàng trăm nghệ sĩ diễn
viên. Bảo đi là đi, bảo diễn là diễn, bảo không dựng cái này, bỏ bài
hát kia là chỉ có chấp hành. Thỉnh thoảng lại có các phái đoàn tổng
cục xuống duyệt chương trình gồm các vị lãnh đạo văn nghệ cấp trên,
những Nguyễn Văn Bàn, Trần Văn Ghế nào đó. Đôi khi họ cũng đưa vài
văn nghệ sĩ có tên tuổi đi cùng nhưng người quyết định mọi chuyện
vẫn là họ.

Hầu hết những gì tôi viết đều được thông qua ngay lập
tức vì tôi có viết bằng cái đầu và trái tim của tôi đâu. Toàn là thứ
“nói hộ” Đảng, nói hộ tuyên huấn quân đội mà tôi bịa ra hàng đống từ
ca khúc, nhạc múa, đến nhạc đệm cho kịch. Tất cả đều đánh một bè.
Chẳng còn chỗ nào thấy là tôi “kỹ thuật thuần túy”, “tư tưởng tư
sản” nữa! Lúc này ở ngoài quân đội đang đi vào Cải Cách Ruộng Đất
đợt 3 mà khu IV lại được Trung Ương, cử về những đoàn ủy, đội ủy ác
ôn nhất. Sơ hở là…mất mạng như không!

Suốt thời gian ở miền đất dữ Khu IV, không lúc nào
tôi không nuôi ý đồ “vượt ngục”. Bất cứ dịp nào chuồn được ra Hà Nội
để gặp những người có thể “giải phóng” cho tôi, tôi đều tranh thủ
lên đường. Tôi đã dùng “khổ nhục kế” bằng cách xin cấp ủy cho đi
học… đàn accordéon 3 tháng! Tất cả thời gian “đi học” này, tôi
dùng vào việc vận động hành lang “giải phóng” cho vợ tôi trước. Nhờ
quan hệ cả ngoài nhân dân lẫn trong quân đội khá rộng, tôi lợi dụng
chủ trương “tiến dần lên chính quy và hiện đại” tìm cách đưa vợ tôi
đi học lớp kịch nói của đạo diễn Liên Xô Vassiliev ở Nhà Hát Kịch
Nói Trung Ương. Sau đó tôi xin đi học lớp sáng tác chính quy 18
tháng cho các nhạc sĩ do chuyên gia Triều Tiên hướng dẫn.

Chỉ tiếc vợ tôi thì thoát, tôi thì chưa.

Kết thúc lớp học của Vassiliev, Đoàn Kịch Nói Trung
Ương đề nghị “xin” vợ tôi về để phát triển thành Nhà Hát Kịch Nói
Trung Ương. Lúc ấy, bên Quân Đội đang học tập đường lối của “Bác
Mao” chủ trương các đoàn văn công phải “lấy ca múa làm chính, lấy
đại đội làm nhà”, họ sẵn sàng cho vợ tôi đi. Thế là thoát được một
“cái còng tự tạo” là bà vợ khốn khổ của tôi, suốt mười năm múa hát
thì dở ẹc mà kịch cỡm cũng không có nghề!

Phần tôi, sự học thành công quá mức mong đợi lại đưa
tôi tới con đường suýt chết lần nữa. Lớp học của chúng tôi được mở
giữa năm 1957 và kết thúc cuối năm 1958, trùng vào thời kỳ đấu tranh
chống Nhân Văn Giai Phẩm. Chúng tôi đang học rất căng thì được lệnh
tập trung tại lăng Hoàng Cao Khải. Cuộc họp tập trung nhiều người
này, nếu có thể gọi nó là một cuộc họp, có quy tắc “nội bất xuất
ngoại bất nhập”, đã được gọi đi họp là không thể ra ngoài, nhằm đấu
tố anh em Nhân Văn và…đấu tố nhau!

Chỉ đạo trực tiếp cuộc đấu tố này là anh hoạn lợn Đỗ
Mười! Đây là cuộc “đấu tranh tư tưởng” dài ngày nhất, tập trung đông
đủ văn nghệ sĩ nhất. Người trong từng giới đấu nhau, nhạc đấu nhạc,
họa đấu họa, văn đấu văn… theo tổ.

Đưa ra đấu điển hình tại hội trường là mấy tên “phản
bội” đã được chọn trước, với lời dặn từ “trên” là “không khoan
nhượng.”  Đó là Văn Cao, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Phùng
Quán…

Tôi chỉ xin nhắc sơ một số nét nổi bật trong vụ đấu
tố lớn nhất này mà tới tận bây giờ chưa thấy có người nào tả lại. Đó
là:

— 1/ Thái độ cực kỳ đểu giả, cơ hội của những nịnh
thần cố biểu lộ bằng mọi cách “lòng trung thành vô hạn với Đảng”.
Chính những tên nịnh thần này sau khi cuộc học tập kết thúc đã ra
mặt trực tiếp thi hành “án lệnh” của Đảng đầy đoạ một số văn nghệ sĩ
đến “tuyệt nọc sáng tác” tận cuối cuộc đời. Chúng dùng mọi hình thức
trấn áp, trong đó độc ác nhất là chính sách “tước nồi cơm” để diệt
luôn cả con cháu những người bị Đảng muốn trừng trị. Thử hỏi nếu
những Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Tử Phác, Đặng Đình Hưng… và
nhiều nhiều người nữa không bị cái thủ đoạn “giết người không dao”
này hành hạ, làm cho sống dở chết dở, thì sẽ có bao nhiêu tác phẩm
xứng đáng để lại cho đời?

Bọn lưu manh văn nghệ đã triệt để lợi dụng cuộc đấu
tố ở lăng Hoàng Cao Khải để kiếm chác trên xác đồng đội. Để tỏ ra
sẵn sàng “lập công dâng Đảng” bằng mọi cách, ngoài những “tội” thuộc
lĩnh vực chính trị, văn phong, bút pháp, chúng dựng đứng những
chuyện thuộc đời tư, mà là những bịa đặt đểu giả không thể tưởng
tượng nổi. Càng không thể tưởng tượng nổi khi người đứng lên tố lại
là những gương mặt “đáng kính” ở ngoài đời. Ví dụ: một nhà văn nổi
tiếng về một cuốn truyện dành cho thiếu nhi, đã đứng tuổi, tố Trần
Dần có tư tưởng dâm ô đồi truỵ, bằng chứng là ông ta biết và thấy
tận mắt ông bạn hay… “thủ dâm” (kèm theo minh hoạ bằng…tay cách ông
bạn làm thế nào). Hoặc một nhà văn không phải chỉ có tài trong lĩnh
vực văn chương, mà đa tài trong cả lĩnh vực thơ, nhạc, xưng xưng tố
Nguyễn Hữu Đang có tật thích chơi gái, mà đã chơi thì chơi “hai
con cùng một lúc”.
Tôi xấu hổ khi viết ra những chuyện này,
nhưng chúng có thật, là cái mọi người nên biết để thấy hết bộ mặt
khả ố của một bầy nô lệ đã mất hết mọi khái niệm đạo lý. Tôi có thể
viết thẳng tên những người bị trấn áp, nhưng tránh viết thẳng tên
những kẻ tố cáo họ những “tội” bẩn thỉu ấy vì một lẽ đơn giản là
không muốn con cháu những tên lưu manh nọ phải đỏ mặt, phải đau khổ
vì đã có người cha, người ông khốn nạn đến thế. Tôi tiếc mình không
đủ tài, và cũng không còn đủ sức nữa, để viết ít nhất một chương
riêng về cái trại tập trung Hoàng Cao Khải này.

Mong rằng sau này, các nhà văn có mặt trong những
ngày ấy, nếu còn sống, sẽ viết lên đầy đủ hơn những câu chuyện thật
đã diễn ra. Chỉ cần viết đúng sự thật thôi cũng đủ làm nên một thiên
tiểu thuyết rùng rợn, ly kỳ không thua Một Ngày Của Ivan
Dennissovich
hay Quần Đảo Ngục Tù của Solzhenitsyn.

— 2/ Thái độ quá run sợ trước bạo quyền của một số bị
đưa ra đấu tố cũng rõ rệt. Những người đó, nay người đã qua đời,
người đã được lẳng lặng “phục hồi” không một giấy tờ chính thức,
nhưng với tôi, người chứng kiến cuộc đấu tố kinh tởm đó, tôi thấy họ
quá hèn! Không một người nào dám công khai lên tiếng bảo vệ cái chân
lý quá đúng của mình. Không một ai, cho đến hôm nay, dám cãi lý với
bọn cầm quyền bất lương, dám hô to “Đả đảo!” hoặc “Tự do sáng tác
hay là chết”, dù biết rằng cái chết của mình đã được cái Đảng táng
tận lương tâm ấy định đoạt! Hầu hết đều chọn thái độ chịu đựng đến
ngạc nhiên, thậm chí, cúi đầu nhận “tội” một cách quá dễ dàng?

Đó là chưa kể một số, do quá sợ hãi, đã trở mặt “phản
thùng” anh em, kể ra những chuyện “nghe nói thế này thế nọ”, làm hại
nhau một cách cố ý để “lấy điểm”. Thậm chí, có người như đạo diễn
Phan Vũ còn “thành khẩn” đến mức run rẩy khai:
“Tôi bị chúng nó dí điện
(ý nói kích động) tới mức nếu có
biểu tình, tôi sẽ là người cầm cờ đi đầu!?”
Thì ra cái hèn nó đã
làm giới văn nghệ Việt Nam, bị coi như con giun, cái kiến mà chẳng
mấy ai “biết quằn”, nói theo cách Trần Mạnh Hảo.

Tôi không tin cái Hèn còn lẵng nhẵng đeo đuổi các anh
ấy đến tận hôm nay để hy vọng có thể các anh cũng vẫn có “một cái gì
đấy” đã viết hoặc đang viết mà chưa có điều kiện và có “gan”công bố.
Được như thế thôi cũng đủ cho con cháu chúng ta tha bớt cho cái tội
cộng tác với lũ giết người ít nhiều rồi! Bằng không, muôn đời sau,
hậu thế sẽ xếp chúng ta vào “tư liệu về bọn văn… nô” dưới cái thời
đen tối cộng sản!

— 3/ Những người có thái độ chấp nhận bị xếp vào loại
“lừng chừng”, “không dứt khoát” của “đa số im lặng”, thái độ mà
chính tôi cũng lựa chọn, vì thế sau này đều bị Đảng xếp vào loại
đảng viên “không có tinh thần bảo vệ Đảng”. Câu này được ghi vào “lý
lịch đảng viên” của tôi chỉ vì tôi nhất định không phát biểu một lời
nào trong những cuộc đấu tố! Chỉ một lần tôi lớn tiếng thốt ra:
“Lâche!”
([1])


trong giờ giải lao
ngoài hội trường, khi Thịnh Cóc,  trưởng đoàn văn công quân khu
III, hỏi tôi nghĩ gì về thái độ ghê tởm “tự tố” thêm cho mình để ra
cái điều thành khẩn của đạo diễn Phan Vũ. Chẳng hiểu do Thịnh Cóc kể
lại, hay có kẻ nghe lỏm được rồi “tâu” lên “trên”, nhưng thế là ngay
hôm đó trong tổ học tập — ngày nay có lẽ chỉ Tô Vũ còn sống — tôi bị
những tên cơ hội nhao nhao ép phải khai ra: “Đồng chí chửi ai
hèn?”
Tôi cãi là tôi “chửi bọn chơi gái, bọn hút thuốc phiện,
bọn… thủ dâm bị tố ở hội trường chứ ai nữa!”
Chả là ở hội
trường có hai nhà văn lớn, thuộc loại cây đa cây đề, đã xưng xưng tố
Trần Dần là “vua thủ dâm”, tố Nguyễn Hữu Đang là “chơi gái thì chơi
hai con cùng một lúc”. Thật điếm nhục! Một lần nữa tôi phải xin lỗi
bạn đọc không nêu đích danh hai tên “lãnh đạo” bỉ ổi ấy, vì không
muốn con cháu chúng phải cúi mặt trước bạn bè vì có cha ông đốn mạt
đến thế.

Trong buổi họp tổ ấy, câu trả lời của tôi không làm
bọn cơ hội hài long, chúng tiếp tục dồn tôi vào chỗ phải “thành
khẩn” nói cho rõ bằng đủ cách. Thậm chí có tên còn trắng trợn tra
hỏi tôi: “Có ý định theo gia đình vào Nam không?”, “Có tham gia
Nhân Văn không, nếu ở Hà Nội?”
Tôi bác bỏ một cách giận dữ chưa
từng thấy, mặc dầu chúng đã nói…đúng tim đen của tôi đến 90% chứ
không phải ít! Tiếc cho chúng, và cũng may cho tôi, là lúc ấy không
ít người có thái độ “không bảo vệ đảng” (im lặng) như tôi nên chúng
chẳng thể nào kết tội tôi chỉ bằng vào một tiếng “Lâche” vu vơ
(chẳng có số ít hay số nhiều).

Thế là tôi lại thoát!

Chính từ cái lớp đấu tố văn nghệ sĩ này mà tôi càng
nhìn rõ bộ mặt thật đểu cáng, nham hiểm của bọn lãnh tụ cái Đảng mà
không may tôi đã là đảng viên.

Sau những chủ trương công khai giết người, công khai
cướp của trong cải cách ruộng đất, đến cuộc đàn áp trí thức lần này,
chưa bao giờ trong tôi nung nấu đến thế tư tưởng rời bỏ cái tổ chức
khốn nạn này bằng mọi cách, nếu không muốn có lúc chính tôi sẽ bị
chúng “làm thịt”.

Cũng chính trong cuộc đấu tố “cải cách ruộng đất
trong văn nghệ” nói trên mà tôi có dịp nhận diện những tên khốn nạn
nhất, lưu manh nhất mang danh văn nghệ sĩ, thấy rõ bộ mặt thật của
những kẻ cơ hội đủ mọi màu sắc, điểm mặt được từng đứa đang lãnh
nhiệm vụ diệt tận gốc nền văn nghệ đích thực, thiết lập cái “văn
nghệ chuyên chính vô sản” ngu độn.

Càng tởm lợm, tôi càng quyết tâm rời xa hàng ngũ
chúng. Muốn thế trước mắt phải ra khỏi quân đội, nhưng phải ra khỏi
một cách lành lặn. Không bị đẩy xuống đơn vị, không bị khai trừ
đảng…Tôi nghĩ khi đã “ra ngoài nhân dân” rồi, tôi sẽ tìm cách “tự
giải phóng mình” khỏi mọi ràng buộc về “biên chế tổ chức” ăn lương
của Đảng. Từ đấy, tôi sẽ dựng lại cuộc đời cho tôi, cho gia đình
bằng chính cái đầu và bàn tay của mình, chẳng chịu sự lãnh đạo của
bất cứ thằng nào, con nào. Tôi sẽ cố gắng trang bị cho mình thật
nhiều vốn liếng về âm nhạc qua lớp sáng tác của các chuyên gia (đang
phải tạm ngưng vì cuộc đấu tranh này) để khẳng định chức danh “nhạc
sĩ” trong xã hội bằng “một cái gì đó” thật là… âm nhạc để tên tuổi
tôi được nhân dân cả nước, thậm chí cả nước ngoài biết đến.
([2])

Tôi phải vượt lên trong lãnh vực chuyên môn để có thể
đứng vững, có thể kiếm sống bằng chính tài năng của mình. Ước mơ trở
thành một composer đích thực, viết hết sonate số 1 đến số 2, số 3…
symphonie số I, số 2, số 3… đã động viên tôi nhịn nhục trở lại
ngôi nhà 13 Lý Nam Đế, tiếp tục kiếm cách thoát khỏi muôn ngàn cái
bẫy chết người mà bọn “đồ tể văn nghệ”, thay mặt Đảng đang giăng sẵn
để triệt hạ những kẻ “không tin được” như tôi.

Nhưng, tôi lại thất bại, thất bại đắng cay một lần
nữa, vì mọi mưu toan của tôi không thể vượt qua những cú đánh hiểm
độc của bọn xen đầm văn nghệ.

Sau lớp học đấu tố, chúng tôi quay về ngôi nhà 13 Lý
Nam Đế “dùi mài kinh sử” hòa thanh, phối khí, sáng tác, luyện ngón
piano cho hết chương trình “đại học của đại học”. Tôi vùi đầu, ôm
bụng loét dạ dày, ngày đêm viết và viết…Chi bộ, lúc này do Vũ
Trọng Hối làm bí thư, đã nhiều lần góp ý nên tập trung vào những gì
có lợi cho trước mắt hơn là thức cả đêm làm chuyện vô bổ! Tuy nhiên
tôi vẫn “liều mạng” làm một cái gì đó “có vẻ âm nhạc một chút”. Tôi
“bắt” giáo sư chấm cả những khúc piano, violon… và hơn thế, tôi
dán các tờ giấy kẻ nhạc viết ca khúc lại với nhau thành những tờ
tổng phổ 18, 24 dòng rồi bắt đầu viết giao hưởng — hợp xướng
(cantate) 4 chương Tiếng Hát Biên Thùy đưa cho thầy chấm. Ôi!
Thầy Mao Vĩnh Nhất, ông thầy đưa tôi vào con đường nhạc sĩ chuyên
nghiệp đích thực, sau này về nước đã bị đấu tố vì “tội” mở đường cho
đường lối “văn nghệ tư sản” xâm nhập nước bạn Việt Nam. Ông đã bị
tước hết học vị, đưa đi cải tạo và… “biến mất” đến nỗi có ai ở bên
nước “Kim Tướng Quân” sang, kể cả vợ ông, một ca sĩ nổi tiếng, khi
tôi tìm đến hỏi thăm, đều trả lời: “Chết rồi!” Đó là thời gian mà
bên nước ông, người ta bắt đầu nổ súng vào những nhân vật bất đồng
chính kiến từ ông Nam Nhật, bộ trưởng bộ Quốc Phòng, đến nhà vũ đạo
nổi tiếng thế giới Thôi Thừa Hỷ!

Ở Việt Nam, cũng manh nha hình thành cái xu hướng
chết người đó! Tại ngôi nhà số 11 Lý Nam Đế của ông Lê Chưởng, sát
nách ngôi nhà 13 của chúng tôi, các ông Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn
Hoan, Trường Chinh … thường gặp nhau để bàn về việc “lãnh đạo tư
tưởng” trong Đảng, đôi khi khá hùng hồn, to tiếng nên đã lọt vào tai
bọn tôi, chỉ sống cách các ông không đầy 10 mét! Thật là cơ may cho
chúng tôi để thấy được những cái “đầu lớn” nhất nước lại chứa đựng
những bộ óc đầy…bã đậu đến thảm hại, đến…nực cười!

Tuy nhiên, cũng có mấy “ông to” do có nhận thức không
giống họ thì không ngớt bị họ lên án, bị cười khẩy sau lưng. Tướng
Võ Nguyên Giáp, tướng Lê Liêm do học piano cũng bị dèm pha từ đây.
Nghĩa là đã manh nha một sự “chống ngu”, kháng cự bọn “ngu lâu”, tuy
còn yếu ớt.

Việc có nên tập trung 3, 4 đoàn văn công, 7, 8 dàn
nhạc để lần đầu tiên cho ra mắt một tác phẩm của bản thân tôi, dù
tôi không hề có ý định dàn dựng, phải thảo luận lên xuống cả tháng
trời! Cuối cùng, phe “tiến bộ” đã thắng! 80 diễn viên hát, 60 nhạc
công của cả quân đội lẫn nhân dân được tập trung về Hà Nội để làm
một việc chưa từng có trong lịch sử âm nhạc Việt Nam thời ấy: dàn
dựng bằng được cantate Chiến Sĩ Biên Thùy của Tô Hải!

Tôi đã viết hợp xướng 4, 6 bè cùng với giao hưởng hai
quản ngay từ khi nước nhà chưa biết dàn nhạc giao hưởng là cái gì.
Chỉ riêng chương trình in trong ngày biểu diễn đầu tiên đã có bàn
cãi nên ghi là đồng ca, hợp xướng, đại hợp xướng hay tổ khúc? Sau
gần 1 tháng, dưới sự dàn dựng và chỉ huy của chuyên gia Triều Tiên
Triệu Đại Nguyên, sáng tác của tôi ra mắt chào đời, dù còn thiếu một
số nhạc cụ như timpani, cor, trombone.

Lúc này Chu Minh, Hoàng Vân đang ở Tàu, Đỗ Nhuận,
Nguyễn Đức Toàn đang ở Liên Xô, trường nhạc chỉ mới có hệ trung cấp
“tự dạy tự học” do ông Tạ Phước làm hiệu trưởng. Sáng tác của tôi đã
gióng lên hồi chuông báo động: “Không học thì đừng mong làm nhạc
sĩ!”

Khi viết cantate này, lúc đầu tôi chỉ nhằm mục đích
“moi” thật nhiều những gì chuyên gia có trong đầu để trang bị cho
mình cái vốn sau này. Thực tế đã chứng tỏ Lương Ngọc Trác, bạn đồng
học của tôi đúng, khi anh rỉ tai tôi: “Cắn răng mà học rồi ấm vào
thân đấy, Hải ạ!”

Tôi cũng không ngờ phe ủng hộ Cái Mới…thắng thế, để
một tác phẩm âm nhạc tạm gọi là “tầm cỡ” vào những năm 1959-1960 ấy
được ra đời! Đặc biệt hôm chính thức ra mắt tại Nhà Hát Lớn nhân dịp
kỷ niệm 15 năm thành lập quân đội ngày 22-12-1959, tác phẩm đã được
gần như cả Bộ Chính Trị, trừ ông Hồ, đến xem và hoan hô nhiệt liệt.
Tôi ngồi bên giáo sư Mao Vĩnh Nhất nên khi “các cụ” đến bắt tay cũng
được “rờ nhẹ” bàn tay các cụ. Riêng “anh Văn” Võ Nguyên Giáp đang bị
dèm pha về chuyện dỗi hơi đi học nhạc lý nhạc sĩ Tô Vũ, học piano
Hồng Hạnh, nghệ sĩ dương cầm của Đoàn Văn Công Tổng Cục Chính Trị đã
kèm theo câu: “Khá lắm!” Bạn bè khen nức nở. Chiến sĩ từ biên giới,
hải đảo viết bài trên báo, gửi thư cảm ơn.

Nhưng khốn nạn cho tôi, tôi đâu có ngờ đây chính là
giai đoạn mở đầu một cuộc đấu đá, nhân danh giai cấp vô sản, để
triệt tiêu cá nhân tôi, bằng cách đưa tôi vào đường ngắm bắn của
đường lối văn hóa vô sản!

Mở đầu là việc đưa tôi về đâu sau khi tốt nghiệp với
khá nhiều tiếng vang như thế? Không còn chuyện đường lối văn nghệ
văn nghẽo gì mà bao trùm lên cả là lòng đố kỵ. Những tên văn nghệ
chính trị cơ hội đã ngăn cản không cho tôi “thừa thắng xông lên” khi
không ít ý kiến của lãnh đạo, cả trong và ngoài quân đội, là tôi nên
về các đoàn văn công đang tiến lên chính qui hiện đại ở Trung Ương
để phát huy khả năng phục vụ. Đây là ý kiến của các ông Lê Liêm, Lưu
Hữu Phước. Nhưng bọn sợ tôi sẽ là “ngôi sao” át mất chúng, đặc biệt
là tôi biết rõ chúng dốt đến mức nào. Chúng đã đưa ra mọi lý do để
lại “đầy” tôi về một đoàn văn công gian khổ nhất, hãi hùng nhất, để
chịu đựng thêm mấy năm bị đánh lên đạp xuống vì đủ thứ tội như “mất
lập trường”, “tư tưởng tư sản trong nghệ thuật”, “chống đối có hệ
thống” với…cấp ủy.

Sau đó là những năm người ta giải tán dần các đoàn
văn công bằng cách đưa ra khẩu hiệu “hướng về đại đội phục vụ chiến
sĩ”. Lấy “hướng dẫn phong trào” là mục tiêu chính, thậm chí để đàn,
để kèn ở nhà, “hạ phóng” làm lính, làm thợ xây, phu hồ xây dựng
doanh trại vv…nghĩa là tất cả cái gì tôi và các bạn tôi được học
chính quy đều nằm trong mục tiêu: Phải…dẹp!

Cũng thời gian này, giữa những năm 1960, báo Văn (gọi
là “hậu Nhân Văn”) bị tấn công tới tấp. Sự thèm khát tự do, nổi lên
bề mặt của cuộc sống tinh thần là tự do sáng tác vẫn không thể giết
chết hẳn với việc xử trảm Nhân Văn Giai Phẩm. Người ta viết bài chào
mừng hồng vệ binh, trích Mao tuyển, ca ngợi thành tựu vĩ đại bên
nước bạn nhờ có “Đại Cách Mạng Văn Hoá Vô Sản”. Các đoàn văn công,
nghệ sĩ tiếp tục “hạ phóng” đi về nông thôn học tập lao động và tự
“cải tạo tư tưởng bằng lao động”.

Một cuộc chỉnh huấn, chỉnh quân, chỉnh Đảng mới, được
phát động nhằm chống lại “khoa học kỹ thuật thuần túy”. Người ta
giương ngọn cờ “chính trị là thống soái” để đánh vào người muốn đích
thực “làm nghề”, kết tội ai muốn chuyên tâm vào khoa học hay nghệ
thuật. Bắt đầu sự tiến băng băng trên hoạn lộ của những bác sĩ không
đọc nổi tên thuốc, những nhạc sĩ không biết và cũng không cần biết
các giao hưởng của Beethoven, Chaikovsky hay ở chỗ nào.

Mọi tin tức từ khắp nơi dồn về dù chỉ là qua những
cái đài transistor Liên Xô, Hungari to đùng cũng đủ để tôi thấy chủ
nghĩa cộng sản đã bước vào chương… bắt đầu của sự kết thúc! Bộ mặt
ác quỷ của nó đã hiện ra sau các vụ đập phá tan tành những đền đài,
di tích văn hoá, đốt sách, làm nhục, bức tử giáo sư, nghệ sĩ, tàn
sát hàng loạt người vô tội ở Trung Quốc, các vụ hồng quân Liên Xô
đưa xe tăng vào Budapest, nã súng vào người Hungary, treo cổ Imre
Nagy, sau cuộc tiến quân của liên minh Warszawa vào Praha, nhất là
sự kiện hàng vạn đảng viên trí thức, văn nghệ sĩ tuyên bố ly khai
khỏi các đảng cộng sản…Tất cả những cái đó càng thôi thúc tôi phải
mau chóng vứt bỏ cái danh hiệu xấu xa, nhơ nhuốc “đảng viên cộng
sản”.

Giữa lúc đó, tôi được lệnh gọi về Trung Ương.

Để làm gì đây?

Hoá ra ông Lê Liêm đã nhân dịp này giải phóng cho tôi
ra đảng theo chính…con đường của Đảng!

Nhờ các ông Lê Liêm, Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu
Phước.., ân nhân nhớ đời của tôi, tôi được chọn làm cán bộ “vừa hồng
vừa chuyên”, một thứ của hơi hiếm, biệt phái sang bộ Văn Hóa. Thật
nực cười! Dù sao đây cũng là cơ hội ngàn năm một thuở cho tôi thoát
khỏi cái “lồng quân đội” mà tôi cho là tệ hại nhất trong các nhà tù
tư tưởng của chủ nghĩa xã hội!

Đang được điều động đi phục vụ Đại Hội VI, viết nhạc
cho vở kịch lớn Trước Giờ Chiến Thắng của Đào Hồng Cẩm, tôi
cùng một số anh em như Hà Mậu Nhai, Hà Minh Tuân…nhận được giấy tập
trung tại ban Tuyên Huấn Trung Ương ở số 5 Nguyễn Cảnh Chân để nghe
phổ biến tình hình thế giới phe xã hội chủ nghĩa đang lộn xộn thế
nào, tình hình trong nước, giai cấp tư sản đang ngóc đầu dậy ra làm
sao? Nhiệm vụ trước mắt, nhiệm vụ hàng đầu của chúng tôi, những
người lính văn nghệ được Đảng tín nhiệm, là phải phát huy vai trò
người “lính gác cửa”, kiên quyết không để cho tư tưởng phi vô sản
lọt qua vv …

Thế là áo bốn túi, mũ cối đỏ choét phù hiệu, vai vàng
khè quân hàm trung úy, tôi bước vào ngôi nhà 94 Tô Hiến Thành, nhận
nhiệm vụ “lính gác cổng văn nghệ vô sản” với chức vụ biên tập nhà
xuất bản Mỹ Thuật Âm Nhạc! Chính từ chủ trương tăng cường cán bộ cốt
cán của quân đội cho bộ Văn Hóa mà sau này bộ Văn Hóa bị những cú vả
sái quai hàm. Một số chẳng hiểu biết ất giáp gì về văn hóa văn nghệ
như Võ Hồng Cương, Mai Vy, Trần Văn Hải từ bộ đội chuyển sang, nhận
những chức vụ quan trọng vụ trưởng, vụ phó, giám đốc. Có thể kể thêm
Trần Ngọc Lê, giám đốc nhà hát giao hưởng, Nguyễn Đình Tính, giám
đốc nhà xuất bản Mỹ Thuật Âm nhạc, Lý Thương, giám đốc nhà hát ca
múa nhạc trung ương và cả những tên cơ hội từ tiểu đội trưởng khai
man là tiểu đoàn trưởng để được giao nhiệm vụ giám đốc như Hồng
Việt, giám đốc xưởng phim đèn chiếu…

Kể cũng tội cho họ. Đảng đã quyết thì họ phải “liều
mạng” mà thi hành nhiệm vụ. Tuy nhiên, trong họ cũng có người tốt,
kẻ xấu. Như cái ông Nguyễn Đình Tính, giám đốc của tôi thì tôi rất
biết ơn ông. Làm gì, thu thanh bài nào, bỏ hoặc thông qua bài nào,
ông đều hỏi ý kiến anh em chuyên môn. Có những lúc không thể nhịn
cười, khi ông gạch đít một bài dân ca mà theo ông “có vấn đề” bởi có
câu “Chiều chiều ra đứng (tây mà…) lầu tây” rồi viết bên
cạnh: “Giai cấp nào mà có lầu đây?” Nhưng khi tôi giải thích
như thế như thế thì ông nghe ngay. Không những thế, ông còn không
ngớt đề cao tôi, kiếm nhà cho vợ chồng tôi, ký quyết định thu thanh
một loạt tác phẩm kể cả Tiếng Hát Người Chiến Sĩ Biên Thùy
để tôi có số vốn ban đầu ổn định lâu dài tại đất Hà Nội! Tôi trở
thành cánh tay phải, thậm chí bộ óc của ông một thời gian và cũng
trở thành mục tiêu đố kỵ của một số “rạc sĩ giời đánh” đang kèn cựa
nhau để có tí chức quyền dù chỉ là phó phòng!

Trưởng phòng thì đã có một ông đại úy pháo binh đảm
nhiệm tên là Nguyễn Đình Quý. Phó giám đốc có ông Châu mù (tôi quên
mất họ)… mù tịt về mỹ thuật, dù dưới quyền ông có những cỡ lớn
trong giới hội họa như Huỳnh Văn Gấm, Quang Phòng… cũng như Xuân
Giao, Thái Cơ, An Chung bên phòng nhạc. Họ không được giao nhiệm vụ
gì hết, do họ chưa là đảng viên!

Còn tôi, lý do duy nhất khiến tôi chỉ là biên tập
viên vì… chưa có giấy giới thiệu và lý lịch chính thức từ Quân Khu
IV cho chuyển Đảng! Tôi sang “bên nhân dân” chỉ có cái quyết định
(bản sao) của ban Tuyên Huấn Trung Ương đóng dấu chữ nhật to đùng do
ông Tố Hữu ký. Tất cả các cán bộ được điều chuyển đều còn chờ một tờ
giấy gửi từ Khu IV ra để tôi nhận nhiệm vụ phó giám đốc vì lúc này,
ở bên họa cũng như nhạc từ Phan Huỳnh Điểu, An Chung, Thái Cơ, Xuân
Giao chưa ai được “bất hạnh” là đảng viên!

Phải nói them rằng điều kiện để tôi rút khỏi cái tổ
chức nguy hiểm chết người cũng nhờ một phần khách quan từ trên
“trời” rơi xuống. Đó là ngay trong Đảng, hai phe thân Tàu, thân Nga
đã lộ diện. Phe này chửi phe kia là tả khuynh, hữu khuynh, là xét
lại… Sự thật là lý luận Mác-Lê Nin đã đi vào khủng hoảng ngay ở
nước mẹ của nó, ở cả hai nước anh cả, anh hai… từ lâu rồi.

Ở Hà Nội, lũ học trò chữ Tây cũ chúng tôi, những
Chính Yên, Thiết Vũ, Trần Đĩnh…đâu có thiếu báo chí tài liệu nước
ngoài. Ngay trong giới văn nghệ, những anh có học và vô học lúc này
càng phân hóa rõ ràng. Mấy cha “bần cố giả vờ”, không nghe, không
đọc gì ngoài đài phát thanh của ông Trần Lâm, báo Nhân Dân của ông
Hoàng Tùng, thì chơi với nhau. Mấy cha nghiện Paris Match, Le
Figaro, Le Monde thì nhìn bọn “Dạ! thưa anh” bằng con mắt cực kỳ
khinh bỉ.

“Hiện thực xã hội chủ nghĩa”, “thẩm mỹ Mác-Lê Nin” bị
biến thành chuyện tiếu lâm. Chúng tôi cười vào mũi mấy anh “thành
phần cơ bản” bằng cách dẫn chứng sự thoái hóa của chủ nghĩa Mác với
chính lý luận của Marx, Engels, Zinoviev, Garaudi… Có anh “bảo
lưu” quan điểm “xét lại”, công khai treo ảnh Khrushov ngay giữa
sa-lông. Chúng tôi viết bài (không đăng) vạch ra cái dốt về lý luận
cơ bản như “Thế nào là hiện thực trong các loại hình nghệ
thuật?”, “Hiện thực xã hội chủ nghĩa là cái gi? “Thế nào là Đảng
tính, giai cấp tính, nhân dân tính”
? Nổi bật là việc báo Văn bị
coi là “hậu Nhân Văn”. Rồi đến các tác phẩm Vào Đời
của Hà Minh Tuân, Đống Rác Cũ của Nguyễn Công Hoan, mấy
truyện ngắn của Nguyên Ngọc (Mạch Nước Ngầm), Vũ Thư Hiên (Đêm
Mất Ngủ
), Ngô Ngọc Bội (Chị Cả Phây) … bị chính lãnh tụ
văn nghệ Tố Hữu đánh. Một loạt tùy bút tưng tửng của Nguyễn Tuân
(đặc biệt là Phở) bị xếp vào loại… vô chính trị. Mà đã vô
chính trị tức là không chịu sự lãnh đạo của Đảng.

Riêng tôi, cũng bị dính vào loại “có vấn đề” qua
những bài hát như Qua Sông Lại Nhớ Con Đò, những bài hợp
xướng rối rắm, lắm bè nghe như…cái chợ, “sặc mùi tiểu tư sản”!
Tiếng Hát Biên Thùy
bị cắt hai chương, không cho biểu diễn là
các chương có giai điệu êm ái tiết tấu nhẹ nhàng. Cũng chính lúc
này, trong quân đội, nhân dịp tổ chức lại các sư đoàn, quân khu
người ta giải tán luôn các đoàn văn công lớn, xé lẻ mọi tổ chức văn
nghệ cồng kềnh khó lãnh đạo dễ cho mọi tư tưởng phi vô sản luồn vào!

Cơ may từ trên trời rơi xuống cho tôi nhờ chính sự
phá hoại của bản thân những tên lãnh đạo ngu dốt nhất đang ôm chặt
chân Mao để “khử” những người không đồng chí hướng, khép họ vào “xét
lại”, khai trừ họ khỏi Đảng, thậm chí thủ tiêu, bỏ tù hàng loạt.
Trong số người có công nhất với giới văn nghệ, ông Lê Liêm là người
bị đánh ngay đòn phủ đầu do anh thư ký của ông tên Thẩm, nghe đâu bị
bắt vì tội đã chuyển văn bản nghị quyết 9, chống xét lại cho
Cherbakov, đại sứ Liên Xô.

Tiếp theo là những Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh,
Đặng Kim Giang, Ung Văn Khiêm, Nguyễn Văn Vịnh… và nhiều nhiều
người nữa bị bỏ tù, bị khai trừ Đảng, bị quản thúc tại gia. Riêng
trong giới văn nghệ đi tù, thời này chỉ có Vũ Thư Hiên, Lê Huy
Vân… còn lại đều bị kiểm điểm, hoặc mất chức, hoặc thu hồi tác
phẩm.

Tóm lại các tổ chức văn nghệ, vừa tiến lên chính quy
và hiện đại được một bước thì phe Mao-ít nhân danh “chống xét lại”
đẩy lùi về thời nghiệp dư tới 10 bước.

Vậy mà, tôi mừng quá, mừng hơn khi “giải phóng Điện
Biên, bộ đội ta tiến quân trở về”! Vì chính nhờ sự “phá hoại do
chống nhau có tổ chức” này, tôi có cơ hội thoát khỏi nhà tù nhỏ đang
nhốt một anh “nhạc sĩ đảng viên” mặc áo lính một cách êm re.

Tôi chẳng bị khai trừ, nhưng chẳng phải quần chúng,
chẳng phải đảng viên, chẳng phải nhân dân, cũng chẳng phải quân đội!
Năm 1986, khi về hưu tôi mới trả lại tất cả quân hiệu, quân hàm,
chứng minh thư quân nhân, chẳng thèm đòi hỏi bất cứ chính sách nào,
sau 25 năm bị Đảng, bị Quân Đội bỏ quên! Hơn thế nữa, cái tổ chức
lèm nhèm đến vô tổ chức đó cũng chẳng cần để ý xem Tô Hải là lính
hay là dân, là đảng viên hay quần chúng, dù khi tôi từ giã hẳn cái
tổ chức rất… vô tổ chức đó, họ vẫn cấp cho tôi một tờ quyết định
có tiêu đề Đảng Cộng Sản Việt Nam – Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh
đóng dấu hình chữ nhật đỏ loét do phó bí thư thành ủy Nguyễn Võ Danh
ký!

Thật là lạ đời!

Rút kinh nghiệm 40 năm sống chung với Đảng, tôi kiên
quyết không chìa cái giấy quyết định có thể “kiếm chác” này ra khi
trở về khu phố. Vài ông bạn già, khi đi lĩnh lương hưu, gặp tôi
thường hỏi: “Sao không thấy ông đi sinh hoạt chi bộ?”. Tôi chẳng
ngượng ngùng gì khi trả lời: “Các cụ nhầm rồi! Tuy có 43 năm “đi làm
cách mạng” thật đấy, nhưng “tôi chưa hề là đảng viên đảng cộng sản!”

Vợ tôi có lúc khuyên tôi nên khiếu nại về cái sự vô
trách nhiệm trong quản lý cán bộ để tôi bị “mất liên lạc”! Bởi nếu
được tính 55 tuổi Đảng thì, khi hóa giá căn hộ mà Nhà Nước cho thuê
từ năm 1975, tôi sẽ được “ưu tiên”. Tôi đã trả lời vợ tôi: “Bao
nhiêu năm “đóng kịch”, bao nhiêu mưu mẹo để được đứng trong hàng ngũ
nhân dân, chối bỏ cái quá khứ làm “xen đầm văn nghệ”, làm đầy tớ cho
những thằng ngu, nay được tự do, được tuyên bố “Tôi không là đảng
viên cộng sản” là may, là tốt lắm rồi.

Tôi càng không phải chịu trách nhiệm, không ai coi
tôi là đồng lõa của bọn “ngụy cộng sản” thời Đổi Mới này”. Hãnh diện
quá đi chứ, vinh quang quá đi chứ! Hà cớ bây giờ, chỉ vì căn hộ chưa
đầy 60 mét vuông, lại phải muối mặt làm “lão già hèn” nữa hay sao?

Hãy cho tôi được chết như các anh Trần Độ, Lê Liêm…
khi đăng “cáo phó” không có cái mục “ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT
NAM”, dù so với các anh, tôi chỉ là con tôm, con tép!

Các anh đã “ĐƯỢC KHAI TRỪ”.

Các anh đã dám “công khai chống Đảng cộng sản”, dám
công khai nhận “bản án đầy vinh quang”!

Không hề sợ hãi, cúi đầu.

Không hèn lâu như tôi. /.


Viết thêm, xong ngày 20 tháng 4 năm 2007 khi bước vào
tuổi 80 được 8 tháng 26 ngày.

Nhạc sĩ Trần Hoàn mừng thọ 75 tuổi Tô Hải



([1])

Lâche = hèn (tiếng Pháp).


([2])

Năm 1968, tên tôi đã được ghi trong Encyclopédie de la
Pléiade
của Pháp cùng 10 nhạc sĩ miền Bắc Việt Nam.

Mục
lục

Vĩ Thanh 2006 | Tô Hải

  

 


HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN
 

Tô Hải
 

 

 

 

VĨ THANH 2006

 

 

Tới hôm nay, 24-9-2006, tôi đã sống thêm được 4 năm
nữa để bước vào tuổi 80 đến không ngờ!

Kể từ ngày quyết dứt bỏ nỗi Hèn Nhát đáng khinh để
bắt tay vào viết cuốn Hồi Ký Của Một Thằng Hèn (1995), rồi
lại bổ sung một chương Tôi Đã Hết Hèn (2002) tới nay là đúng
4 năm nữa, tập hồi ký vẫn chưa được công bố!

Tôi giấu kín nó như…thuốc phiện lậu trong nhà và
cẩn thận đề bằng bút dạ ngoài cái túi đựng nó “Để xuất bản năm
2010”.

Đây cũng là cái năm mà tôi tin tưởng:

—1/ Chủ nghĩa cộng sản quái quỉ này đã…“mồ không
yên mả không đẹp” bởi cái hố mà nó tự đào không đủ sâu đến nỗi nhân
dân đã đẩy nó xuống, nó vẫn bốc mùi đểu cáng thối tha đến mức ngày
nào cũng có hàng vạn người quật chúng lên để rắc vôi bột!

—2/ Tôi đã…chết rồi! Nghiã là nếu chẳng may cho đất
nước này, tới năm 2010 mà bọn lưu manh còn tại vị thì chúng cũng
chẳng thể bỏ tù tôi với các tội “phản quốc”, “gián điệp” cho nước
ngoài…như chúng đã bỏ tù các vị Hoàng Minh Chính, Phạm Quế Dương.
Lê Hồng Hà… !

Đấy! Cái hèn đeo đuổi tôi tới những ngày cuối năm
2006 chẳng qua vẫn lo họ “chơi đểu” thì khổ cho vợ con.

Nhưng hôm nay, tất cả đã đổi khác.

— 1/ Một cao trào cách mạng thực sự đã nổi lên. Rất
nhiều người đã công khai vạch trần cái thối nát, lừa bịp của bọn ăn
cắp, lưu manh đang mượn lá cờ rách nát “chủ nghĩa cộng sản” để cai
trị, đàn áp, hủy hoại cả thể xác và tâm hồn của hơn 80 triệu dân.
Bất chấp nhà tù, bất chấp mọi thủ đoạn gian manh, độc ác như trấn
áp, vu cáo, thủ tiêu, những con người dũng cảm tuyệt vời đó ra đứng
hiên ngang trước ánh sáng mặt trời, với họ tên, nghề nghiệp, địa
chỉ, địa chỉ e-mail, điện thoại, mobile đàng hoàng! Bên các tên tuổi
“lão thành chống cộng trong nước”, tôi mê mẩn bởi bài viết của các
đàn em, đàn con, đàn cháu tôi như Trần Mạnh Hảo, Trần Khải Thanh
Thủy, Phương Anh, Du Lam…Tôi vô cùng cảm phục hành động và lời nói
của những Phạm Hồng Sơn, Trần Anh Kim, Nguyễn Văn Đài, Đỗ Nam Hải,
Bạch Ngọc Dương, Lê Thị Công Nhân, Lê Trí Tuệ…Tôi như trẻ lại với
lớp trẻ của thời đại. Hy vọng của tôi ngày trước nay đã thành hiện
thực…

— 2/ Chế độ độc tài “ngụy cộng sản” đã lộ rõ mặt thật
chỉ là một bọn Mafia cướp của, giết người, lừa bịp dân đen bằng lời
lẽ xảo trá mà đứa trẻ lên năm cũng biết là nói dối. Ở đầu thế kỷ 21
này, câu nói của Goebbel không thể áp dụng được nữa vì chúng đã đi
xa hơn những gì mà quan thầy phát xít của chúng đã dạy nên…nhân
dân đã trả lời: “Không tin! Không tin và… không tin!”

— 3/ Nội bộ cái gọi là Đảng Cộng Sản phân hóa cao độ,
chẳng thằng nào nghe thằng nào. Những “lão thành cách mạng” 50, 60
thậm chí 70 tuổi Đảng vẫn kiếm cách hạ bệ nhau. Thằng cầm quyền
trước vạch tội thằng cầm quyền sau. Võ Nguyên Giáp là con nuôi Đế
Quốc Pháp? Đỗ Mười là tên hoạn lợn chuyên…“hoạn” đồng chí mình? Lê
Đức Anh là cai đồn điền khai man lý lịch? Nông Đức Mạnh là con rơi
của Hồ Chí Minh? Nguyễn Tấn Dũng là con rơi của Nguyễn Chí Thanh, là
anh em cùng cha khác mẹ với Nguyễn Chí Vịnh? Rồi vụ T4, vụ Sáu Sứ…
Nhiều, nhiều chuyện lừa bịp, xuyên tạc lịch sử động trời lần lượt
được chính các “lão thành cách mạng” tố ra. Dù nhằm mục đích gì, do
động cơ nào thì mọi sự thật thối tha lâu nay bị bưng bít đã được bọn
chúng tự “vạch áo cho người xem lưng” làm cho nhân dân thực sự “sáng
mắt, sáng lòng”, nhất là các tài liệu đó lại được ký tên bởi các nhà
cộng sản cỡ bự như Võ Nguyên Giáp, Lê Nam Khánh, Hai Sô, Bảy Cống,
Năm Thi, Nguyễn Hòa…

— 4/ Tình hình thế giới đang dồn bọn cầm quyền vào
cảnh không lối thoát: Hoặc là theo con đường toàn thế giới đang đi,
hoặc là quay lại chế độ phát xít sẵn sàng tiêu diệt dăm bảy triệu
người trong các trại tập trung, lò thiêu xác? Điều sau thì không thể
được rồi vì “cái nhà chung thế giới” trong điều kiện khoa học kỹ
thuật phát triển như ngày nay không cho chúng muốn làm gì thì làm.
Chính nhờ những nghị quyết như 1481 của Nghị Viện Châu Âu, những sự
can thiệp gián tiếp hay trực tiếp của các chính phủ, các hội đoàn,
các tổ chức quốc tế và mạng lưới truyền thông toàn cầu không ngừng
đòi hỏi dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam mà tới hôm nay
(15-11-2006), chúng không còn dám trắng trợn trấn áp tàn bạo những
người đấu tranh cho dân chủ, không thể ngăn cản tiếng nói cổ võ dân
chủ, vì nhân quyền của các đài BBC, RFA, RFI, VOA… và hàng trăm tờ
báo online đại diện cho hơn ba triệu Việt kiều ở Mỹ, Pháp, Anh, Ba
Lan, Tiệp, Đức, Hung…đang từng giờ góp tiếng nói đanh thép ủng hộ
bà con trong nước đứng lên chôn vùi cái chính quyền đảng trị, công
an trị để họ được sớm trở về góp sức xây dựng tổ quốc tiến lên bằng
bè bạn năm châu. Hơn cả mong đợi là sự ra đời của 3 tờ báo Tự Do,
Ngôn Luận, Tổ Quốc và Dân Chủ ở trong nước, bất chấp mọi quy định
của cái thể chế Xã Hội Chủ Nghĩa duy nhất trên thế giới này.

— 5/ Tôi đã thật sự “trưởng thành” ở cái tuổi 80 để
nhìn lại bản thân mình. Qua những năm tháng im lặng chờ thời, “bất
hợp tác” với bọn lưu manh bằng cách không nghe, không xem, không đọc
những gì cộng sản viết để chỉ vùi đầu vào màn hình “lang thang khắp
thế giới” ít nhất mỗi ngày 8 tiếng… tôi đã tự giác ngộ thật hiệu
quả. Tôi đã làm quen với bao nhiêu điều hay, biết được bao nhiêu sự
thật, mở được những trang lịch sử lâu nay bị ém nhẹm, bị xuyên tạc.
Đặc biệt nhờ Internet mà tôi đã “gặp” bao con người đáng kính trọng,
đáng noi theo mà tôi đã nêu ở trên. Tôi cũng được động viên bởi bạn
bè, đồng chí đã “lầm đường cách mạng”, các “đảng viên âm thầm hoặc
công khai bỏ Đảng” như tôi, và một số anh em ở khối 8406, khi có dịp
tôi cho đọc từng chương Hồi Ký Của Một Thằng Hèn này đã nhắc:
“Phải công bố nhanh lên kẻo…nguội mất! Nếu không sẽ chỉ là một thứ
“ăn theo” vì giờ đền tội của chúng nó đã đến”! Vì thế, tôi quyết
định phải cho cuốn hồi ký ra mắt “trước thời hạn”!

Tuy nhiên, khi đọc lại lần cuối, tôi cảm thấy hồi ký
này chỉ là của một người có tầm nhìn, nhận thức về tư tưởng, tình
cảm…quá lạc hậu với thời cuộc. Thậm chí cái Hèn vẫn bao trùm nhiều
khía cạnh, nhiều trang đời, nhiều suy nghĩ của tôi… ngay trong quá
trình ngồi viết về cái hèn của bản thân!

Tôi muốn viết lại từ đầu!

Nhưng…than ôi, quỹ thời gian còn lại quá eo hẹp.

Tôi đã 80 tuổi.

Thôi thì đành viết thêm cái “vĩ thanh của vĩ thanh”.

Người đọc hãy đặt mình vào hoàn cảnh người viết trong
một xã hội mà một bài báo cũng có thể đi tù để thông cảm cho sự
chuyển biến của ngòi bút đang cố gắng theo kịp chuyển biến lịch sử!
Tôi chỉ có thể bổ sung một chương nữa với nhận thức mới, tình cảm
mới trên một tư thế mới hoàn toàn. Tôi không còn sợ hãi, tránh né,
không còn lo đụng chạm bất kể ai! Cũng có thể coi đây là tóm tắt tất
cả các chương mà tôi đã viết, nhưng bằng nhận thức, bằng tinh thần
thời đại nhất — 2006.

Vĩ thanh này được tiếp sức bởi các hành động, các
phát biểu, các vụ án nhân quyền đểu cáng nhất mà cái gọi là Đảng
Cộng Sản tạo ra cho bao người yêu tổ quốc Việt Nam. Bên cạnh đó là
những cuộc đấu tranh cho dân chủ Việt Nam — của kiều bào ở hải
ngoại, của các nhà dân chủ như Vaclav Havel, Loretta Sanchez,
Walecsa…

Tôi đặc biệt biết ơn tiếng nói đầy thuyết phục của
các giáo sư, bác sĩ, luật sư…là nhân chứng lịch sử, đã mở mắt cho
tôi nhiều điều từng bị cộng sản làm cho u mê.

Tôi cảm ơn các báo, đài hải ngoại đã đưa đến cho tôi
những thông tin, tài liệu, những tác phẩm cực kỳ quí giá làm thay
đổi hoàn toàn cách nhìn chủ nghĩa cộng sản của tôi. Quyết tâm đi
theo con đường mà Hoàng Minh Chính, Hoàng Tiến, Vũ Cao Quận, Nguyễn
Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Thanh Giang…đã đi, tôi bắt
đầu…viết thêm những gì mà sau 9 năm, đọc lại tôi thấy tôi chưa đủ
“tầm” để vạch tội đến nơi đến chốn, lên án chưa đanh thép chủ nghĩa
Cộng Sản. Phần nào đó, tôi còn e dè một số nhân vật mà tôi chưa nhận
rõ tính chất đểu cáng, lừa bịp vì không có tài liệu cụ thể, giấy
trắng mực đen nào trong tay…  Có thể kết luận về tôi như sau:
Một chú lính đã nhìn rõ kẻ thù nhưng chưa có súng đạn, chưa dám dùng
gậy tầm vông, thậm chí tay không đối mặt với kẻ thù!

Hôm nay, súng đạn, lưỡi lê đã có đủ, tôi sẽ xông vào
trận, không e dè, sợ hãi nữa. Tôi sẽ biến mỗi dòng chữ thành một
viên đạn nhắm thẳng vào kẻ thù. Cũng vì thế mà “vĩ thanh 2006” của
tôi sẽ là “hồi ký của một thằng hèn được cô đọng”, (épilogue
condensée) có nâng cao và sửa chữa, bổ sung. Nếu không có thì giờ,
người đọc có thể bắt đầu từ những trang vĩ thanh trước khi quay lại
trang đầu, đọc nó như đọc một tài liệu đã xuất bản cách đây cả 10
năm rồi.




 

Mục
lục

 

 

 

 

Tôi đã hết hèn | Tô Hải

 

 


HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN
 

Tô Hải
 

 


TÔI ĐÃ HẾT HÈN

 

Vậy là cuối cùng tôi đã sống lay lứt
được tới hôm nay, ngày 1 tháng 6 năm 2002!

Sau bao nổi đau về tinh thần và thể
xác, tôi như được tiếp thêm nguồn sinh lực mới nhờ hai năm chống
nạng vào Nam ra Bắc “xin” được chữa bệnh “vượt tuyến” không kết quả.
Cũng nhờ hai năm này, tôi đã thực mục sở thị mọi thực tế xã hội trên
cả nước, có dịp gặp lại bạn bè, đồng chí, đồng ngũ cũ, các tướng về
hưu, các đại tá sửa xe, bán nước đầu đường… Tôi đã ngập mình trong
cái xã hội mọi người không chỉ chen lấn xô đẩy nhau như thời kỳ “xếp
hàng cả ngày”, giành giật cướp bóc, thậm chí tiêu diệt nhau để “làm
giàu”.

Đi đâu cũng gặp những “ông chủ mới”
–– thực tế là những “người cộng sản mới”, những tướng (cướp) mới,
những “kẻ cầm cân nảy mực” xã hội từ xã cho đến trung ương đang hè
nhau tranh thủ cướp đất của dân xây nhà, xây khách sạn, làm sân
golf…để tích lũy của cải cho nhiều đời con cháu. Chuyện các quan
chức có tài khoản nhiều triệu đô la ở nước ngoài không còn là chuyện
lạ. Một số trắng trợn hơn, cho con cháu ngang nhiên làm chủ cả hàng
loạt khách sạn, công ty, trung tâm vui chơi giải trí…

Tới hôm nay, giữa năm 2002, cực chẳng
đã người ta chỉ mới đưa ra ánh sáng hai vị uỷ viên trung ương đảng
dính líu tới một vụ Mafia tép riu – Năm Cam.

Còn lại là cả một hệ thống từ trên
xuống dưới đang ngang nhiên cướp tất cả những gì có thể cướp, trước
khi “chủ nghĩa tư bản đích thực” thay thế cái “chủ nghĩa tư bản
hoang dã”.

Báo chí những năm gần đây dù bị bịt
miệng bởi luật “trừng phạt các tội làm lộ bí mật quốc gia”,
vẫn biết dựa vào kẽ hở các cuộc chó mèo tranh ăn tung ra nhiều tin
giật gân “chết cha các cụ” để tăng số lượng phát hành, kiếm thêm
tiền.

Một số “cây bút nghiệp dư” nhưng “có
uy tín” từng là… tổ sư, là bố mấy ông lãnh đạo đương thời, nay về
hưu, cũng chẳng chịu ngồi yên trước sự kiếm chác quá đà (hơn mình
nhiều quá!) cũng “mạnh dạn” vạch ra những sự thật do cơ chế ––
“nguyên nhân của mọi nguyên nhân” –– dẫn đến tình trạng vô luật
pháp, chẳng ai chịu ai, trên bảo dưới không nghe. Cứ làm như đảng bị
cái “cơ chế” (ai đẻ nó ra nhỉ?) làm hư hỏng đảng viên chứ bản chất
của đảng là trong sáng tuyệt vời, vì dân vì nước hết mực!

Vậy thì phải gấp rút cải tổ cơ chế
bằng cách…giải tán ủy ban này, thành lập tổng cục kia, sáp nhập hai
cơ quan thành một, chia một cơ quan thành hai, đặt tên mới cho cơ
quan cũ, hoán đổi vị trí của các “xếp”… Cứ như là có thể sửa chữa
một ngôi nhà dột nát sắp đổ sập bằng cách… khiêng đồ đạc phòng này
đặt sang phòng khác, bịt lại nhiều “cửa nhỏ”, thay thế chúng bằng
“một cửa to” –– gọi là “cải cách hành chánh”.

Người dân chẳng còn một tí ti lòng
tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính
phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của
ông chủ tịch xã, phường, của chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông
chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại
biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi” mà
kết luận: “Tất cả đều dối trá!”

Ăn cắp, hối lộ, bao che, ô dù cho
nhau để tổng giám đốc ngân hàng lấy tiền ngân hàng, giám đốc xuất
nhập khẩu móc ngoặc với quan đầu tỉnh… đi buôn lậu; giám đốc công
an bảo kê cho băng nhóm mafia, sòng bạc, ổ điếm…

Những vụ đổ bể này sở dĩ nổi phềnh
lên là do bị người dân chửi bới nhiều quá nên báo chí phải lao vào
cuộc, phanh phui những bộ mặt quá ư lộ liễu mà không sợ bị “đóng
cửa, đình bản”.

Luật pháp cũng đành lòng phải làm vài
cú đập nhẹ vào một phần nổi của tảng băng chìm đang đe doạ làm sụp
đổ cả hệ thống chính quyền vô sản giả hiệu!

Ngay khi tôi viết những dòng này, báo
Pháp Luật TP.HCM đưa tin hai ông Trần Mai Hạnh, tổng giám đốc đài
TNVN, phó ban “văn hoá tư tưởng”, phó chủ tịch Hội Nhà Báo (láo),
và…“Cứt” Quốc Huy, thứ trưởng bộ Công An đã được chọn để bị bắt!
Cả hai đều là uỷ viên trung ương nên cái Bô (không dấu nặng) Chính
Trị của chúng chọn mãi mới tìm được hai tên sẵn sàng nhận tội theo
cách Lê Lai liều mình cứu chúa, sau lời hứa hẹn sẽ sớm được thả ra,
tài sản được bảo đảm vẹn toàn là cái chắc!

Quả nhiên chỉ một năm sau, chính tôi
đã nhìn thấy Trần Mai Hạnh trong một nhà hàng sang trọng nhân dịp đi
họp Đại Hội Nhạc Sĩ tại Hà Nội, mặc dầu toà án của Đảng tuyên phạt
3, 4 năm tù giam gì đấy! Chuyện những tên tội phạm đang chịu án tù
vẫn đi ăn nhậu nhảy đầm, lên xe xuống ngựa, em út theo sau cả đàn
không chỉ dành cho những bố già, nhân dân biết cả. Những tên tội
phạm trực tiếp nhưng do nắm được “tẩy” các ông “to” cũng đều được
hưởng đặc ân kiểu này.

Ngay cạnh nhà tôi lúc ở Sài Gòn, có
một tay người Tầu tên Triệu Bỉnh Thiệt, “trùm buôn lậu” đã dám quát
vào mặt mấy chú công an đến “kiểm tra hành chính”:
“Không biết tao là ai à? Tao là… bố Mai Chí Thọ đây! Bắt tao là cả
nước Việt Nam này sẽ xụp đổ đấy!”
Hắn dám mạnh miệng như thế là
do trong tay hắn có hàng loạt tấm ảnh, băng video quay lén “các cu”
trong những cuộc hành lạc do hắn tổ chức. Hắn rồi cũng bị ra toà,
cũng bị xử tù, nhưng tôi vẫn gặp hắn hàng ngày trong building 23 Gia
Long cho tới khi hắn vận com lê lên máy bay đi Hồng Kông!

Cái thời một mình Hồ Viết Thắng
(
[1])
đứng ra nhận hết mọi tội lỗi trong Cải Cách Ruộng Đất ngày nay được
diễn lại trắng trợn và…ngu xuẩn. Ấy vậy mà người ta vẫn không
ngừng hô khẩu hiệu “Noi gương Hồ Chủ Tịch vĩ đại”! Cứ như thể họ
muốn nói “ông Hồ còn lưu manh gấp ngàn lần chúng tao. Còn lâu mới
học hết tư tưởng, đạo đức của Người”!

Kể ra cái ông Hồ này cũng… tội!

Tên, tuổi, ngày sinh, tháng đẻ, ngày
chết, thành tích kách mệnh, trình độ học vấn, tư tưởng, gia
đình, vợ, con, bồ bịch… chẳng cái gì là thật cả. Cũng nhờ cái tên
Trần Dân Tiên nào đó viết về ông như một nhà “đại sư tổ đạo đức hiếm
có” bị phanh phui ra chính là…ông, nên tôi đã xổ toẹt cái “đạo
đức” của ông đi từ khá sớm. Có điều, tôi không lên án ông ta về
chuyện liên quan đến đàn bà. Ông ta cũng là con người, cũng có quyền
lấy vợ đẻ con, thậm chí ba bốn vợ như ông Lê Duẩn, cũng có quyền bồ
bịch như ông Mitterand, ông Clinton chứ! Cái tội của ông là do bọn
gọi là cộng sản an nam phong kiến cố tình dựng ông ta lên thành
“thánh sống” (và “thánh chết”) để lừa bịp cái dân tộc đa số là nông
dân thất học, đầu óc còn mê muội về thánh về thần. Ông ta chỉ là một
nhà cách mạng chính hiệu cuồng tín với chủ nghĩa Mác-Lê mà thôi.

Thế nhưng, những năm cuối thế kỷ 20,
tôi giật mình mỗi khi hiểu thêm về ông qua những tư liệu, hình ảnh,
văn bản, di cảo của những nhân chứng sống, những chứng cớ rành rành
được lưu trữ trong các văn khố cộng sản…, mới dần dần bỏ hẳn được
cái hình ảnh Hồ Chủ Tịt ra khỏi đầu mình, mới thấy Công của ông ta
toàn là Tội!

Không có ông Hồ, không có cái đảng
này thì đâu đến nỗi cả dân tộc tôi bị chiến tranh tàn phá, anh em,
họ hàng đâu đến nỗi chia lìa, chém giết lẫn nhau, đâu đến nỗi thua
xa những nước cũng thuộc địa như nước tôi đến cả thế kỷ về mọi mặt.

Vậy mà rũ bỏ những nhận thức sai lầm,
chịu nhận là mình đã lạc lối, kiên quyết giã từ cái chủ nghĩa nặng
mùi xác chết ấy đi, sao nó khó khăn, vất vả đến thế! Những lần ra Hà
Nội, đến thăm một số bạn bè đồng trang lứa, tôi càng thấy cả lũ
chúng tôi đều ngu ngốc đến tận cuối đời và hèn đến khi xuống lỗ!
Những tướng tá đánh Đông dẹp Bắc, huân chương đỏ ngực, được tặng đủ
mọi thứ danh hiệu vinh quang… (ảo) đều chung một tâm trạng như
tôi: “Cốc làm cò xơi”.

Quyền lực ngày nay đã khác xưa. Trước
kia bọn hám quyền chỉ là những kẻ hám được “oai”, được vênh vang
đứng trên thiên hạ, chứ ngày nay quyền lực có bộ mặt thực dụng thấy
rõ. Cứ đứng trước cổng nhà những kẻ đang nắm quyền hiện hành thì
thấy: Có quyền lực là có tất cả. Nhà lầu, xe hơi đời mới, vợ đẹp,
con khôn, hoặc không khôn thì cũng… đều du học Mỹ, Anh, Pháp, Úc
hết.

Tôi hỏi một bạn cũ đã hết thời: “Tiền
đâu mà mày xây cái nhà cả tỷ đồng thế?” Hắn cười khà khà: “Ờ…
ờ… Thì Nhà Nước “cho” mấy trăm mét đất, bán đi một nữa, 10 cây một
mét là thừa xây nhà và mua sắm tiện nghi sinh hoạt! Chính sách
chung, tiêu chuẩn quy định cả ấy mà!”
Ra thế! Anh bạn tôi là
người có lúc đã nắm quyền, bây giờ được đàn em không quên ơn cũ
chiếu cố theo chính sách. Thì ra ở Việt Nam không có cá nhân ăn cắp,
ăn cướp mà chỉ có ăn cắp, ăn cướp tập thể, ăn cắp ăn cướp theo băng
đảng qua cách phân phối của cải chiếm được. Có tài thánh cũng chẳng
truy ra nổi nguồn gốc tài sản mà bốn đời làm việc, với lương bộ
trưởng, một người cũng chẳng xây nổi căn nhà đáng giá hàng nhiều
ngàn lần tháng lương của anh ta! Nghĩa là có chính sách cho sự ăn
cắp và ăn cướp công khai và… có tổ chức.

Những thằng bị ra toà chẳng qua là do
lòng tham vô đáy, đã giàu cho bản thân, cho vợ con, cháu, chắt…
còn muốn giàu cho cả bồ bịch, người thân. Chúng tiêu xài như những
tên khùng mà chẳng sợ ai chạm tới một sợi lông chân vì kẻ đặt chúng
vào các cương vị tự do ăn cắp luôn bảo kê cho chúng được ngồi trên
luật pháp!

Một tổng này, một giám nọ… dám vứt
qua cửa sổ cả trăm ngàn đô la qua một cuộc đánh bạc trên… máy bay
(vụ Tamexco). Một nữ “giám đốc” dám chi 500 cây vàng mua riêng căn
nhà cho một tài tử cải lương mà ả mến mộ để sau những đêm… họp với
các VIP ở Sài Gòn xong, ả có thể quay về “họp riêng” với tên tài tử
đĩ đực! Tổng giám đốc ngân hàng nhà nước, công an, tòa án, thanh tra
từ xã, phường đến trung ương đều bắt tay làm ăn với các mafia lớn
nhỏ…, cướp tiền, cướp đất, cướp nhà, buôn lậu, tích trữ, buôn bán
ma tuý.

Các vụ bị đưa ra xét xử như Vũ Xuân
Trường, Phùng Long Thất, hoặc những vụ có VIP cỡ lớn nhất bảo lãnh
như Nguyễn Văn Mười Hai, Minh Phụng, nếu ở các nước khác thì tổng
thống, thủ tướng cũng… đi tù.

Trái lại ở ta các vị từng ăn nhậu,
chụp ảnh, quay phim chung và làm gì gì nữa thì không biết…, các vị
từng đề cao chúng, dắt chúng đi nước này nước nọ với cương vị “doanh
nhân số Một”, là “tài năng” làm ăn có hiệu quả… thì tới khi bị báo
chí, nhân dân và chính nội bộ các vị vì mâu thuẫn nhau, vạch mặt
chúng ra, đưa chúng ra tòa thì các vị đều… vô can!

Làm sao há miệng được vì các vị đã
“mắc quai” với những tài khoản khổng lồ do bọn “lưu manh có bảo kê”
này chuyển giùm ra nước ngoài cho con cháu các vị đang đi “du hí”
dài hạn làm chủ? Chẳng thế mà khi “đồng chí tử tù” Vũ Xuân Trường
uất ức vì bị “hy sinh”, đề nghị sẽ khai tuốt tuồn tuột các vị trên
gần và trên cao nữa chỉ đạo hắn để “ngồi mát ăn bát vàng” ra sao thì
Tòa đã nhận lệnh bịt mồm ngay lập tức bằng mấy phát đạn hành hình
vội vã và bí mật!

Người ta cứ trâng tráo giúp nhau “hạ
cánh an toàn” bằng cách thay đổi vị trí các quân cờ, thi hành kỷ
luật bằng cách đá sang hoặc đá lên chức vụ khác. Người ta còn long
trọng đọc diễn văn cảm ơn sự “cống hiến hết mình” của các “học trò
xuất sắc của Hồ Chủ Tịch” khi các vị “tòng phạm” này được “thôi giữ
chức”. Thỉnh thoảng người ta còn mời mấy vị xuất hiện ngay hàng ghế
đầu các kỳ họp “nhà trắng”, “nhà đỏ” như các vị “đại công thần” để
các vị ngồi… ngáp và làm trò cười cho thiên hạ khi người ta quá
biết con cái các vị đang làm gì, nhà cửa, lâu đài lớn nhỏ của các vị
ở đâu.

Sở dĩ các vị mặt vẫn…trơ, trán
vẫn…bóng như thế vì vẫn lo cho lũ lau nhau đàn em trẻ người non dạ
ngày nay thành trung ương uỷ viên, thành uỷ viên Bộ Chính Trị, Ban
Bí Thư, Tỉnh Uỷ… chui từ ống tay áo các vị ra.

Cũng chính từ những vị “vua không
ngai” này mà nảy sinh các cuộc đấu đá nội bộ, chia bè kết phái để
nhân dân thấy được cái gọi là chủ nghĩa cộng sản đặc thù Việt Nam
đang biến thành chủ nghĩa lưu manh chính trị, lưu manh kinh tế như
thế nào! 

Lại vì cái lớp “kế tục sự nghiệp” của
các vị không những đã tiếp tục phát huy truyền thống ăn tục, nói
phét, vơ vét không ngừng, tranh ăn, tranh chức mà còn đưa truyền
thống vẻ vang của các vị lên một tầm cao mới” khiến đổ bể ra những
vụ “ăn cắp, ăn cướp động trời” đến nỗi các vị “cộng sản bố” cũng
phát hoảng!

Cũng thời gian này bỗng xuất hiện
những tài liệu bị cấm, nhưng có thể tìm mua ở bất cứ tiệm photocopy
nào để đọc và chuyền tay nhau… Hàng loạt chuyện thâm cung bí sử,
hàng loạt vụ việc bị bưng bít được lộ ra qua những cuốn
Mười Nỗi Đau Của Hồ Chủ Tịch
(
[2]),
 Đối thoại Năm 2000
(
[3]),
Sám Hối… Chẳng biết những chuyện được nói đến trong đó
thực hư ra sao nhưng ít nhất câu nói “Chẳng ai chống chủ nghĩa
cộng sản hiệu quả bằng chính người cộng sản cả”
  bắt đầu
được thực tế chứng minh.

Dù sao đây cũng là lần đầu sau hơn 60
năm chỉ nghe “Đảng ta là đỉnh cao trí tuệ”, “Đảng ta bách chiến
bách thắng”
… thì hôm nay mới được thấy những dòng chữ “Đảng
ta sai lầm”, “Đảng ta không tuân theo lời dặn của Bác Hồ vĩ đại”,
“Đảng ta đang đánh mất uy tín trong nhân dân!”, “Đảng ta mất dân chủ
ngay trong Đảng trầm trọng”..
. do chính các ông cộng sản cỡ bự
phát ra.

Thế rồi… một cuộc đảo lộn tư tưởng
mới trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam đã nổ ra! Chẳng có một
Đảng nào lãnh đạo! Chẳng có một cường quốc nào áp đặt! Chẳng có một
lãnh tụ, một tập đoàn chính trị nào phất cờ! Vậy mà hàng triệu con
người đã tự tìm cho mình một đức tin, được tự do tin và không tin,
được tự mình tìm thấy cái Sai và cái Đúng, cái Thiện và cái Ác, được
nắm bắt cả quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, được hòa mình vào
cuộc sống cả thế giới để rồi mỗi người tự vấn lương tâm, tự xoay
chuyển nhận thức, tình cảm, hành động. Đó là SỰ BÙNG NỔ CỦA
INTERNET! Tuy Việt Nam hòa nhập vào cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật
này khá chậm chạp, nhưng nó lại được phát triển với tốc độ chóng mặt
tới mức nhà cầm quyền không kịp đối phó.

Từ những năm cuối thế kỷ 20 thế giới
đã biết tên nhiều người Việt Nam không chịu cúi đầu làm nô lệ. Họ là
những người đi đầu trong sự nghiệp đấu tranh giành các quyền tự do
tối thiểu của con người, vạch trần cái “đại phản động” của chủ nghĩa
cộng sản đã bị lịch sử chôn vùi. Cũng chính nhờ sự lên án mạnh mẽ
của thế giới qua Internet mà những con người hơn hẳn chúng tôi một
cái đầu, một quả tim, một lá gan này đã thoát cảnh tù mọt gông như
thời Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên…những năm 1960. Internet đã
cung cấp thêm cho nhân dân Việt Nam và cả cho bản thân tôi nhiều tấn
đinh để đóng vào cỗ quan tài đã mục nát của chủ nghĩa cộng sản ở
Việt Nam.

Chỉ đáng tiếc, và đáng xấu hổ nữa,
cho giới văn nghệ chúng tôi…đã quá hèn, hèn ngang dân Bắc Triều
Tiên chết đói gần 3 triệu người, không ai dám lên tiếng.

Ở cái nước cộng sản còn ngắc ngoải
này, trong giới văn nghệ nói riêng, ngoài Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc,
Trần Mạnh Hảo, Dương Thu Hương, Tiêu Dao Bảo Cự, Bùi Ngọc Tấn… là
những người đã công khai vạch trần mọi tội ác của chế độ độc tài
đảng trị, đòi hỏi đa đảng, đa nguyên còn thì tất cả đều…im như
thóc. Khi đất nước đã sạch bóng cộng sản chắc chắn nhân dân sẽ ghi
vào sử sách những gì họ đã dám làm trong tinh thần xả thân vì nghĩa
cả. Tiếc thay, tất cả vẫn chỉ là những cái xù lông của con nhím chứ
chưa phải những mũi tên nhằm thẳng hồng tâm mà bắn, là vạch trần bộ
mặt thật của bọn lưu manh chóp bu đang nhân danh chủ nghĩa cộng sản
–– mà chính chúng cũng chẳng tin –– cướp chính quyền để ra sức vơ
vét của cải, bán đất bán biển cho ngoại bang, phè phỡn trên xương
máu, trên mồ hôi, nước mắt của 80 triệu dân.

Một sự phá rào đáng kể nữa cần phải
nhắc tới là giới họa sĩ trẻ. Chẳng nói chẳng rằng họ lầm lì phá bằng
hết những “cái Đẹp theo quy định của Đảng” bằng đủ mọi trò, mọi xảo
thuật chẳng cần xin phép ai. Nghĩa là họ đàng hoàng đái vào cái Kinh
Thánh chủ nghĩa “hiện thực xã hội chủ nghĩa” của cộng sản bằng cách
cho ra đủ thứ “trái cấm” thời trước như sắp đặt, lập thể, siêu thực,
khoả thân… và gì gì nữa mà tôi không đủ hiểu biết để tán dương hay
phản đối.

Tóm lại, hầu hết văn nhân nghệ sĩ đều
tránh xa cái nhiệm vụ đấu tranh chính trị dễ đưa đến ngồi tù như Hà
Sĩ Phu nên tất cả đều biến thành…sĩ phu hèn! Tất cả chọn thái độ
im lặng chờ thời. Nhưng không phủ phục xuống mà sáng tác như Trần
Dần, Lê Đạt, mà…ngủ gục xuống hiện tại để quên quá khứ và… thở
dài chờ đợi tương lai. Thời thượng hơn chút ít, một số nhỏ cũng tát
nước theo mưa tỏ thái độ phê phán, bất bình, chửi bới qua vài câu
thơ châm biếm, vài ba chuyện tiếu lâm hiện đại “lời nói gió bay” nặc
danh tác giả. “Ra ngõ đều gặp thằng hèn” là như thế đó!

Riêng bọn “quan văn nghệ”, bọn mới
nhập Đảng, mới được “cơ cấu” vào các cương vị lãnh đạo, mới được
phong cấp, phong hàm vùn vụt, được vào “nhà trắng, nhà đỏ”, được cấp
bằng “giáo sư, tiến sĩ” búa xua thì…khỏi nói. Bọn này vẫn như
những con chó được chủ quẳng cho mấy khúc xương thừa, một lòng tụng
ca công ơn Đảng không biết ngượng! Tất cả đều nằm trong một âm mưu
lừa bịp nhân dân trong nước và thế giới rằng…Đảng chúng tôi nay đã
đổi mới, thành phần ưu tú của chúng tôi có hàng vạn cử nhân tiến sĩ
chứ không chỉ có công nông binh như xưa!

Để chuẩn bị cho các chức vụ béo bở
này, chỉ trong một đêm, có cả chục ngàn người ngủ dậy bỗng trở thành
“tiến sĩ”! Một cháu gái “nhà báo tự do” khi nhận được quyết định là
“tiến sĩ của thủ tướng” ––  một việc liều mạng chưa từng có
trên thế giới –– đã thẹn thùng nói với tôi: “Mấy năm học ở Liên
Xô với luận án: “Tính dân tộc trong chèo tuồng Việt Nam”, cháu được
chứng nhận tốt nghiệp phó tiến sĩ. Từ khi về nước đang chẳng biết
làm gì, chẳng có cơ quan nào chịu nhận vào biên chế thì bỗng nhận
được quyết định trở thành… đốc tờ! Chắc chết vì nghe chửi mất! Hơn
thế nữa, chính các ông thầy ở trong nước và ở nước


ngoài, trừ một giáo sư Liên Xô, chưa ai có học vị
cao như cháu, nghe tin này chắc họ phải ngạc nhiên lắm…”

Tôi an ủi cháu:
“Cháu còn có tốt nghiệp đại học văn khoa trong nước,
có tiếp tục nghiên cứu tuồng chèo Việt Nam ở…Lomonosov, và được
các giáo sư trong một hội đồng khoa học có tiếng công nhận, dù họ
chỉ thấy có lợi cho… họ hơn là cho cháu, do nhờ những tư liệu
nghe, nhìn và bản luận án của cháu mà họ đỡ mất công sang tận Việt
Nam để nghiên cứu nghệ thuật phương Đông! Hơn nữa cháu có học
“thật”, nên dù trình độ tiến sĩ…“dỏm” thôi, cũng vẫn còn hơn cả
ngàn “tiến sĩ” bằng đã dỏm mà trình độ thì lại… cực dỏm!

Sau đó tôi kể cho cháu nghe chuyện
những người mà chính tôi phải trực tiếp can thiệp để họ đi học nước
ngoài, nhưng vì không kiếm đâu ra cái bằng trung học phổ thông mà
phải dùng mẹo…“khai danh dự” rằng “thất lạc do chiến tranh” hoặc
“đi tập kết quên không mang theo”, để được ra đi trót lọt, đúng
chính sách! Những kẻ may mắn này, khi đi du học chẳng thể nào tiếp
thu được bất cứ cái gì cho nghề nghiệp mà chỉ trở thành kẻ quanh năm
lang thang đi kiếm bàn là, nồi áp xuất, dây điện trở may-xo… gửi
về cho gia đình đỡ đói khổ! Đến khi về nước thì chính họ lại làm khổ
mọi người bởi các thứ kiến thức ba lăng nhăng vô tích sự của họ!
Không ít ông “tiến sĩ”, “nghệ sĩ nhân dân” từ trên trời rơi xuống ấy
đã trở thành những nhà lãnh đạo, đưa đường chỉ lối cho giới văn học
nghệ thuật nước nhà, có kẻ còn làm đến bộ trưởng, thứ trưởng, nghị
sĩ và được “cơ cấu” vào trung ương Đảng! Cứ hỏi những người ở lớp
ngoại thất tuần đã có một quá trình làm “công chức văn nghệ”, ai mà
chẳng biết họ từ đâu chui ra! Tôi lại phải xin phép không kể tên
thật của họ ra đây vì tôn trọng con cái họ, kể cả vì thương hại họ
nữa, vì xét cho cùng đa số trong bọn họ chỉ là những “con rối gặp
may”. Họ đâu có nghĩ tới chuyện họ sẽ là số I, số 2 trong giới văn
nghệ Việt Nam. Họ bị nhào nặn, bị “đôn lên đá ở…ngoại hạng” bởi
cái cơ chế này muốn thế, bởi chính sách này muốn thế, để dễ … bịp
trẻ con là nước ta đều do các nhà hành pháp và lập pháp, tư pháp có
văn hoá cao, lãnh đạo, quản lý! Không loại trừ mưu đồ hạ bệ các
“tiến sĩ thật” như Đặng Văn Chung, Nguyễn Chung Tú, Đặng Văn Ngữ,
Lương Đình Của, Võ Tòng Xuân…như thời “hạ giá” một đại tướng bằng
cách cho ra đời một loạt đại tuớng chưa hề cầm súng.

Loại giáo sư, tiến sĩ, nghệ sĩ nhân
dân, nghệ sĩ ưu tú, ở thời điểm bắt đầu thế kỷ mới còn nguy hiểm hơn
ở chỗ nó kéo theo một loạt “quốc nạn” khác. Đó là bắt đầu nở rộ một
phong trào bịp bợm, cả nước nói dối nhau và nói dối chính mình để
kiếm chác nhờ những học vị, những tước hiệu “chạy” được.

Hàng lô hàng lốc những ông giám đốc,
tỉnh uỷ, trung ương uỷ viên, đại biểu quốc hội đều có trình độ tiến
sĩ, thạc sĩ, cử nhân… mà chẳng hề có tên trong hồ sơ sinh viên,
nghiên cứu sinh ở bất cứ trường đại học nào! Hầu hết đều là tiến sĩ,
thạc sĩ…Mác-Lênin, tốt nghiệp ở cái trường Đảng do ông giáo sư
tiến sĩ tên Nguyễn Đức Bình, uỷ viên “bộ chính troẹ” làm… giám
đốc!

Một số khá đông nữa tốt nghiệp tại
chức môn… luật pháp… của Đảng nghĩa là vô luật lệ, ngoại trừ
“luật” Bộ Chính Trị bảo sao thì làm vậy! Chấm dứt cái thời để được
tính là thành phần cốt cán “ba đời đi ở” phải giấu trình độ học vấn
của mình, nhất là do “kẻ thù giai cấp” đào tạo, bằng một thời kỳ cả
nước khai man trình độ học vấn từ thuở bắt đầu bước vào các trường
để chứng minh công trạng…“trồng người” của đảng CS! Câu vè:
“Nước ta có chuyện lạ đời, Chưa đỗ lớp 10 đã đỗ giáo sư, Nước ta
chuyện thật như đùa, Cử nhân, tiến sĩ dễ mua hơn…bèo”
ra đời ở
cái thời kỳ “lừa đảo lịch sử” này được nhân dân phát triển thêm mỗi
khi có một vị giáo sư tiến sĩ nào xuất hiện trên Tivi mà ai cũng
biết là học lớp 3 trường làng, là dân nói ngọng “lờ” thành “nờ” bất
khả sửa, bằng nhiều câu ca dao hò vè thâm thuý mà sau này rất cần
sưu tầm để in lại cho con, cháu, chắt, chút, chít thưởng thức về một
thời nở rộ những chuyện ba lăng nhăng chưa từng thấy mà nền văn nghệ
dân gian đã phản ảnh trung thực. Bọn âm binh này là những tên tội
phạm hình sự lớn nhất và nhiều mưu mô chước quỷ nhất.

Những quan văn, quan võ này mở đầu
cho giai đoạn chuyển nhanh, chuyển mạnh sang tư bản đỏ, bán nước cho
bất cứ kẻ thù nào, lập ra các “băng nhóm tội phạm sạch”, miệng rao
giảng chủ nghĩa Mác-Lê-Hồ nhưng đồng lòng vơ vét hết của cải, tiền
bạc của đất nước. Những tên không biết chùi mép, không tuân theo
luật Omertà
(
[4])
của Mafia đỏ đều bị “thí” không thương tiếc.

Những “bố già” của tư bản đỏ trong
khi chỉ huy cướp của giết người vẫn lớn tiếng hô hào “chống” cái
này, “chống” cái khác, còn hơn cả Al Capone
(
[5])!
Tuy chẳng toà án nào kết tội được Al Capone về tội giết người dù đã
giết cả trăm nạn nhân, nhưng ít nhất hắn còn phải vào tù vì tội trốn
thuế! Còn ở Việt Nam thì luật pháp được khoanh vùng, thi hành đến
phạm vi nào thì phải stop, nếu không muốn mất ghế, thậm chí mất
mạng! Không ít trường hợp, khi thấy mình bị bán đứng, nhiều tên muốn
khai ra toàn bộ đường dây Mafia thì bị toà bịt miệng bằng cách “xếp
vào một vụ án khác để điều tra xét xử sau”! Những chuyện có một
không hai đó trên thế giới này, thế hệ con cháu hãy chịu khó tìm ở
các kho lưu trữ hồ sơ, nếu còn, nếu chưa bị huỷ theo “lệnh trên”,
hoặc biết đọc ý giữa các dòng chữ trên báo chí, hay phần cứng, phần
mềm của các hệ thống máy tính ở các cơ quan, nếu chúng còn, sẽ thấy.

Báo Tuổi Trẻ Cười số Xuân 2000 đã
tổng kết rất khéo về một năm “làm ăn bất chính” của bọn “tư bản đỏ”
bằng hình ảnh con tàu neo ở một bến bờ vô định, đang được sơn sửa,
nhưng máy không chạy, vỏ han rỉ, thuỷ thủ đoàn đang cậy ván, đinh bù
loong, các bộ phận máy đem đi, hành khách trên boong, dưới hầm…
thì chen chúc kiếm một chỗ thở, bỏ vào bị được cái gì còn sót lại,
thậm chí cướp bóc của nhau, đánh nhau đến vỡ đầu vì một đồng đô la
rơi vãi…Tất cả đều chờ đợi phút nhảy ra khỏi con tầu mà họ được
hứa hão rằng sẽ đưa họ đi tới…thế giới xã hội chủ nghĩa hoàng kim.

Hàng trăm cây cầu, hàng chục “công
trình thế kỷ” được nước ngoài viện trợ trở thành miếng bánh ngon
chia nhau đớp, nuốt… đến mức trong một tháng tổng kết đã có cả
ngàn tỷ đồng bay vèo vào két mấy chú “tư bản đỏ”, nhẹ nhàng
và…“trăm trận cướp trăm trận thắng”, còn các nhà máy do chúng làm
chủ lỗ lã thế nào đi nữa thì cũng mặc, đã có Nhà Nước…lo. Máy móc
mua về không dùng được thì đem bán đồng nát. Đường sá, xe cộ, nhà
cao tầng nghiêng, xụp, lở, lún thì… nhân dân lãnh đủ!

Đố ai tìm ra hoặc dám bỏ tù thủ phạm,
vì có…quá nhiều thủ phạm không thể xử! Mà xử thì nhà tù đâu mà
nhốt cho đủ, dù mỗi năm, cứ nhân dịp này, dịp khác… lại phải thả
“theo chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà Nước” cả ngàn “đồng chí”
buộc lòng phải đem ra xử vì không thể không xử đã chán nghỉ mát
trong cái gọi là nhà tù đầy đủ tiện nghi!

Trước những gì đang diễn ra hàng
ngày, một bộ máy truyên truyền khổng lồ với gần 80 đài truyền hình,
phát thanh, trên 600 tờ báo vẫn tiếp tục lừa bịp nhân dân rằng họ
đang được sống trong một xã hội rất dân chủ, rất công bằng, rất văn
minh…

Trong tình hình như thế, giới trí
thức càng bị phân hoá đến thảm hại. Có thể chia họ ra làm 3 loại như
sau:

––1) Loại được “chọn” để đề cao, được
giao cho một vài chức vụ, danh vị, ít quyền hành nhưng khá nhiều…
quyền lợi! Vài anh được “Đảng cử cho dân bầu” vào cả Quốc Hội…để
“ra vẻ dân chủ”, mỗi năm 4 lần họp để…“lập những cái pháp” mà Đảng
soạn ra mà có bàn thì chỉ là sửa lại câu cú, chấm phẩy chứ đố dám
bàn ngược!

Một anh bạn tôi, một nghệ sĩ chân
chính, khi được Đảng chiếu cố “cơ cấu” vào Quốc Hội, tạ sự ốm đau
thường xuyên để từ chối cái việc mất thời giờ vô ích mà còn mang
tiếng “nghị gật”, đã giới thiệu một nữ đảng viên vô danh dưới quyền
nhưng thèm… tiếng. Lập tức cô này thành “của hiếm” trong Quốc Hội.
Với chức danh uỷ viên “ban văn hoá xã hội”, cô được đi chơi không
mất tiền khắp trời Việt, trời Tây với đôi tai…điếc đặc và cái
miệng câm như hến! Cứ mỗi lần cô xuất hiện trên ti vi là một lần các
bạn đồng sự phải nín cười vì họ biết tỏng ả từ đâu ra, trình độ thế
nào, từng tằng tịu với ai…

Trò này được diễn đi diễn lại không
biết chán mặc dầu cử tri biết tỏng tòng tong họ là ai, ở đâu ra, mặc
dầu chính tay cử tri đã gạch tên, thậm chí viết hẳn vào phiếu bầu
hai chữ “trò hề” to tướng, nhưng những cái tên được Đảng cử vẫn đắc
cử 99%, 100%! Nhiều ông nghị, bà nghị đại diện cho nhân dân một tỉnh
mà chưa hề biết cái tỉnh ấy bao giờ, vì suốt đời chỉ làm việc và
đăng ký hộ khẩu ở… Hà Nội! Vậy mà có vị nào đã dám từ chối “miếng
đỉnh chung” đó? Cái sự Hèn ở các vị “trí ngủ” này có đáng trách gấp
ngàn lần cái hèn của người dân bình thường không? Được “cơ cấu” đồng
nghĩa với việc từ nay yên trí có ô tô, nhà lầu, phân phối theo “tiêu
chuẩn” Nhà Nước. Thế là “cái đầu” không còn mà quả tim cũng đập khác
đi! Không ít kẻ, khi “trúng số làm quan cách mạng” đều nhanh chóng
trở thành những con chuột cố ních đầy bụng trước khi nhảy ra khỏi
con tầu sắp đắm.

Ngay hôm nay, 16-6-2002, khi tôi đang
viết những dòng này, đài truyền hình mới đưa tin về một ông “tiến
sĩ” có tên Bùi Tá Long, viện trưởng một viện khoa học bị truy tố ăn
chặn tiền “ngâm cứu” của các nhà khoa học dưới quyền. Tuần trước là
vụ đưa ra toà một “tiến sĩ” hiệu trưởng một trường Đại Học Sư Phạm
về tội ăn tiền khi tuyển sinh và cấp bằng không cần thi cử! Hàng
loạt các “quan văn hóa”, “quan văn nghệ” “quan đá bóng”, thậm chí cả
quan thương binh, liệt sĩ…hùa nhau cấu véo các quỹ hỗ trợ của Nhà
Nước, lấy viện trợ của nước ngoài để ăn nhờn mép mà chẳng cần chùi!
Phải chăng khi trả lương cho một bác sĩ, một thầy giáo mới ra trường
15 đô la mỗi tháng, một chủ tịch phường, một công an khu vực chưa
đến 10 đô la là người ta đã bảo ngầm: “Hãy xoay xở mà sống”!

Âm mưu súc vật hóa con người được
tiến hành rất có tổ chức của cái Đảng lãnh đạo toàn diện này, theo
tôi, là tội lớn thứ hai sau tội giết người, vì nó tha hóa nhiều thế
hệ bằng lý tưởng “không có gì quý hơn…đồng tiền”!

“Chân lý” này đã được tổng kết thành
thơ, vè… Quan niệm về ăn cắp được chính các nhà văn hóa chia động
từ thành… 7 ngôi: “Tôi ăn cắp, Anh ăn cắp, Nó ăn cắp, Chúng ta
ăn cắp, Các anh ăn cắp, Chúng nó ăn cắp và… Chẳng ai ăn cắp… ”

cả! Với quan niệm về “ăn cắp” như thế nên chẳng ai “chịu trong sạch”
khi người ta đã mở sẵn cho các “quan” những cánh cửa để vào nơi đầy
két vàng, két đô la mà lấy bao nhiêu cũng đều có cách thanh toán hợp
lý!

Vụ thuỷ cung Thăng Long, vụ Mường Tè,
vụ hầm chui Văn Thánh, cống Hộp…và mọi công trình gọi là xây dựng
cơ bản, nghiên cứu khoa học vv… đều trở thành cơ hội ngàn vàng cho
bọn “quan” này xâu xé, chia chác. Bọn trí thức hãnh tiến chính trị
và hãnh tiến kinh tế này đã bị cái mạng lưới khổng lồ của cơ chế
“thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” rút sạch đến micrograme
lương tâm cuối cùng phải có của nhà khoa học, người thầy, kỹ sư tâm
hồn, làm đồ đệ Hippocrate
(
[6]),
Hải Thượng Lãn Ông
(
[7]).

–– 2) Những cụ già lưng chừng gồm các
vị đang cố giữ cho khỏi rơi vào cái bẫy “mị quan” hoặc không có điều
kiện để…hư hỏng! Các vị ngậm miệng ăn bánh ngọt, hoặc tự nguyện ăn
bánh…vẽ, ôm chặt quá khứ, cố khư khư giữ cái lý tưởng mình đã trót
đeo đuổi mà nay “bỏ thì thương, vương thì tội” đành quên hết hiện
tại, và…tự ru ngủ bằng cách rung đùi ngồi ngắm các bằng chứng nhận
50, 60 năm tuổi Đảng, các huân chương, danh hiệu đủ loại như Anh
Hùng, Nhân Dân, Ưu Tú…giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà
Nước…chẳng biết ngoài đời có chuyện gì ngoài cái màn hình tivi của
Đảng…Tuy nhiên mọi sự tha hoá, biến chất, xuống cấp của xã hội, dù
các cụ có đóng kín cổng để khỏi thấy nó là “bản chất chứ không còn
là hiện tượng ” thì nó cũng cứ đạp cửa, vượt tường ùa vào tận phòng
ngủ, tận đầu giường các cụ mỗi ngày, mỗi giờ. Con cháu các cụ đâu có
để các cụ ngủ yên trên đống thành tích…ảo. Chúng sẵn sàng theo
Đảng, đổi mới từ cách đi, cách đứng, cách ngồi, cách ăn mặc, tóc tai
thời thượng, hở rốn, hở đùi, hở nách, cách ăn nói, xưng hô, đến cách
yêu đương, bồ bịch, ly dị nhanh hơn chớp giật! Thế là mâu thuẫn giữa
các thế hệ nẩy ra và phát triển không ngừng. Chẳng thiếu những “gia
đình văn hóa” mà đại…vô văn hóa. Cha con, vợ chồng sẵn sàng kiện
cáo, tranh cướp, thậm chí đâm chém nhau vì quyền lợi. Điển hình là
vụ tranh chấp nhà cửa giữa hai cha con nhà thơ “lớn” Huy Cận sau khi
Xuân Diệu qua đời mà báo chí đã nêu đích danh

(
[8]).
Liên tục là các vụ kiện cáo, bôi xấu, hất ghế nhau vì “miếng bánh”
chia không đều hoặc so kè ai miếng to, ai miếng nhỏ?

––3) Riêng về các tổ chức văn nghệ
Hội này, Hội khác thì… dù bộ mặt thật của các hội đã được chính
các hội viên, các cá nhân trong các ban chấp hành, chấp tỏi vạch
ra… đủ các âm mưu hạ bệ nhau, nhưng người ta vẫn tiếp tục chi
tiền, trả lương cho một số “hội hiếc”, bầy ra một số chức vụ để tiếp
tục duy trì…sự lãnh đạo của Đảng một cách… vô ích, vô duyên và
vô cùng lãng phí!

Do quyền lợi bầy ra trước mắt dễ nuốt
như thế nên một số vị còn đôi chút lương tri cũng bị… mê mẩn. Thế
là mọi sự chạy chọt, vận động, âm mưu kiếm phiếu bầu đã công khai
hoặc bí mật xảy ra! Các “quan văn nghệ” này sẵn sàng vạch tội đối
thủ, nào tham ô, hủ hoá, nào vô tài, bất tướng, nào học giả, bằng
giả, nào sống bằng ăn cắp của công, kể cả ăn cắp tác phẩm, ăn chặn
bản quyền vv… Sau các cuộc đi vận động kết hợp với du hí ở khắp
các địa phương của các vị, một lô các tên tuổi vô danh nhưng đang có
chức có quyền, được kết nạp bừa bãi thành hội viên, bất chấp điều
lệ! Chính do những mục đích đen tối này mà một số “nhà văn, nhà thơ,
nhà nhạc”… chẳng ai biết đến bao giờ, thậm chí cả những tên tội
phạm sắp ra toà, cũng được kết nạp vào hội như trường hợp nhà thơ
Hùng Tấn, nghệ sĩ Dũng Thanh, đoàn trưởng một đoàn cải lương nổi
tiếng ở Sài Gòn nhưng nghề chính là…ma cô, và “đạo bùa”, tay chân
của trùm Mafia Năm Cam…

Hàng tỷ đồng mỗi năm được đầu tư sáng
tác trở thành những miếng mồi béo bở để hủ hoá các văn nghệ sĩ còn
muốn giữ mình trong sạch. Vị nào đã trót cầm vài chục triệu của các
“quan văn nghệ” chia cho chẳng chóng thì chầy cũng biến
thành…“tòng phạm” há miệng mắc quai, câm như hến hoặc thỉnh thoảng
lại…ị ra một “công trình” ca ngợi Đảng! Thế hệ mai sau hãy thử tìm
trong những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 này xem có “công
trình”, có “sáng tạo” nào ra hồn không? Rất hiếm người dám treo ấn
từ quan…văn nghệ! Càng không thể có những tên tuổi, tàm tạm lớn,
dám công khai xin ra khỏi Đảng như ở Pháp, ở Tiệp, ở Hung, ở Liên Xô
khi thấy Đảng phản bội họ!

Đầu năm 2000 có một phát súng lục
6.35 mang tên Truyện Kể Năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn. So với
Một Ngày Của Ivan Denissovitch
, Quần Đảo Ngục Tù
của Soljenitsyne thì chưa là cái gì. Tác giả chỉ mới “kể khổ” về nỗi
oan ức của anh và của các bạn tù chứ chưa dám làm cuộc tổng kết
nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến sự lộng hành, độc tài phát
xít của một chế độ. Vào những năm 1950-1960, anh sẽ ra toà vì tội
“chống Đảng”, hoặc đưa đi biệt xứ là cái chắc!

Nhưng sau lệnh thu hồi tác phẩm và kỷ
luật nhà xuất bản, anh ngạc nhiên không ít khi đang chờ đợi một “đòn
đánh” mới thì bỗng dưng lại được mời…đi họp “đại hội đại biểu Hội
Nhà Văn”. Người ta tiếp tục chính sách tha hóa cán bộ văn nghệ bị
đày đọa bằng một vũ khí mới: bồi thường “ngầm” cho một ít quyền lợi
vật chất và tinh thần!

Không ít tên tuổi ngày nào còn bị coi
như “đồ hủi” trong làng văn nghệ, bỗng hôm nay được các báo, các nhà
xuất bản thi nhau bốc lên tận trời. Một “nhà phê bình lớn”(sic!)
từng lên giọng “lập trường” chửi bới họ để kiếm chác lòng tin với
Đảng, nay quay ngoắt 180 độ, khen lấy khen để người mà trước kia
chính ông ta vùi xuống đất đen –– trường hợp giáo sư Hoàng Như Mai
“đánh” thơ Hữu Loan. Tất cả những tư liệu giấy trắng mực đen đó mà
được lưu giữ đầy đủ trong phần cứng của máy tính như thời nay thì
chỉ cần “click” vài cái, bộ mặt tráo trở đểu giả của những “học
giả”, “trí thức”, “văn nghệ sĩ cơ hội” này sẽ hiện ngay trên màn
hình cho công chúng phỉ nhổ…

Dân tộc ngày nay là trở lại với “áo
dài khăn đóng”, y hệt thời kỳ ông Diệm đã làm! Hiện đại là bắt chước
những gì mà các nước đã thải ra đến cả chục năm. Chỉ tội cho quần
chúng ít hiểu biết, kể cả mấy nhà báo trẻ chuyên viết về văn hoá văn
nghệ, cứ tưởng là mới, những thứ đã có cách đây cả trăm năm! Đó là
những bài hát kiểu Vincent Scotto, những màn Music Hall, điệu nhảy
cancan của Broadway, của Moulin Rouge…những bức tranh bắt chước
Cezanne
(
[9]),
Monet
(
[10])

rồi Picasso
(
[11])
thậm chí cả những bức bôi bẩn Grafitti
(
[12])
mà cảnh sát các thành phố lớn phương Tây mỗi sáng phải lo đi tẩy
sạch, cũng được chính các quan văn nghệ cho phép “búa xua”!

Về vấn đề “Mới” mà quá…“Cũ” này,
tôi đã có dịp trình bày tại một đại hội âm nhạc Sài Gòn nhân vụ bầu
đại biểu đi dự đại hội nhạc sĩ Việt Nam lần thứ 6 năm 2000. Tôi đã
hát hàng loạt những bài mà tôi hát từ thời còn để chỏm và vạch ra
cái giống nhau như hai giọt nước giữa các bài nổi tiếng thời
1940-1945 với những bài “tốp ten” “tốp tuếch” những năm đầu thế kỷ
21 ra sao. Tôi đã viết lên nhiều tờ báo về “ngôn ngữ ca khúc thời mở
cửa”, về “quốc tế hoá ca khúc”, về “vấn đề toàn cầu hoá với âm
nhạc”, về sự bát nháo trên thị trường âm nhạc, sự sa đoạ của những
ngôi sao ca nhạc dỏm, sự ngạo mạn, coi thường quần chúng bằng những
tuyên bố huênh hoang, nhăng nhít, thậm chí vô văn hoá trên báo, trên
đài của một số hợm hĩnh do quá giàu nhờ… bịp bợm bằng nghệ thuật.
Tất cả những gì tôi làm luôn được hoan nghênh triệt để, báo chí đều
đăng, thậm chí còn được trao tặng giải nhất về báo chí năm 2001. Thế
nhưng tôi cứ…“sủa”, lũ phá hoại âm nhạc vẫn cứ… đi! Hàng ngày
chúng phun nọc độc vào tâm hồn trẻ thơ qua các giai điệu, tiết tấu
“thuổng” hoặc ăn cắp nguyên xi của các Boys Band, Girls Band bên
Anh, bên Mỹ, những triết lý tình yêu bẩn thỉu đủ kiểu
“Yêu nhau đi… Chỉ còn đêm nay nữa mà thôi… ” hoặc “Hãy
hôn em đi… dù em biết rằng anh dối lừa”,
kiểu “Kiss, kiss
again!”
(
[13])

hoặc “Đêm nay ký túc xá
chẳng còn ai, Chúng nó đi chơi hết rồi… Hãy yêu nhau đi!”
Thậm
chí “tình yêu như cây cơ rem”, “yêu nhau ném đá vỡ đầu nhau ra…
Tất cả sự phản ứng của giới âm nhạc chuyên nghiệp, của các bậc phụ
huynh lo lắng trước cảnh con cháu trong nhà mới tuổi mẫu giáo đã gào
lên trước mặt ông bà, cha mẹ những “triết lý” thời kinh tế thị
trường như “Trái tim tôi cỏ dại mọc đầy”
hoặc “Nếu tôi nói là tôi yêu em…Đó là tôi dối mình”, những
triết lý “tình tình tiền tiền” thối khắm mùi chụp giật và bịp bợm.
Tuy vậy, ngày rồi ngày, vẫn cứ xuất hiện thêm nhiều nhạc sĩ, siêu
sao, danh hài, quái kiệt, nhiều sáng tác mang nặng mùi thuốc độc do
chính các nhà cầm quyền đương thời ký giấy cho phép, để lấy hoa
hồng, để đẩy thanh niên ra xa khỏi những “vấn đề nhạy cảm”.

Những gì mà trước đây Đảng cấm thì
nay Đảng công nhận, cho phép phổ biến, cho tha hồ tung hô vạn tuế
trên báo, trên đài, tivi, trên sân khấu, trong các Show biểu diễn
Pop, Rock, Rap…Các băng, nhóm với những cái tên tiếng Anh bắt
chước vụng về, thô thiển và trơ trẽn những M.Jackson, Madona, Spice
Gilrs…không ngớt nở rộ như nấm mùa mưa… Trên báo chí của Đảng,
của Đoàn những cây bút chuyên viết về văn hoá văn nghệ thời Đổi Mới
nay lại nói khác hẳn những điều họ từng nói về nền văn hoá vô sản,
rằng đây chính là “Đảng tính kiểu mới”. Có một cây bút trẻ “thi sĩ
nhạc sĩ hoạ sĩ nhà báo” đã công khai viết rằng “trong thời đại kinh
tế thị trường, âm nhạc, phim ảnh cũng là hàng hoá! Cứ đưa ra thị
trường, cái gì bán được nhiều tiền nhất là cái đó…hay nhất!?” Anh
ta đâu có biết ngay ở phương Tây, người ta đang ra sức đấu tranh
không mệt mỏi chống những thứ “văn hoá ăn khách” kích động bạo lực,
hô hào chém giết, hiếp dâm…dù bọn này có hàng triệu fan hâm mộ, dù
chúng đang là triệu triệu phú nhờ bán những đĩa Rap nhơ bẩn như
“Fuck the Police”, “Fuck the America”, thậm chí cả “Fuck’in
President” (nhóm Rap triệu phú Wu Tang Clan)… Chao ôi, dưới bàn
tay phù thuỷ của quyền uy vô sản những Festival Rock Pop Việt Nam
trình diễn bằng “tiếng Anh” (có tên “unplugged”) kéo dài cả tuần mà
không hết khách! Tiền như nước cứ chui vào túi các bầu show, các
“sao”, “siêu sao” do mấy chú nhà “báo bộ” phóng lên để kiếm tiền và
kiếm… tình!

Bọn lưu manh chính trị và văn nghệ
dựa vào cái cột cờ đã mục ruỗng của những người cộng sản cuồng tín
một thời để tồn tại và đánh lừa khá thành công nhiều người chống
cộng sản! Chúng đã lái mục tiêu đả kích của các nhà chính trị, các
học giả, các đài phát thanh và báo chí nước ngoài vào cái xác chết
mà chính chúng đã chôn vùi!? Chúng hẳn khoái chí lắm khi nghe thiên
hạ chửi cái “hồn ma cộng sản” chứ chúng đâu có là cộng sản.

“Chúng bay chửi cả làng Vũ Đại chứ lũ Bá Kiến chúng
tao đâu có là người làng Vũ Đại”!

Cái đểu cáng nhất của bọn cầm quyền
hiện nay là chúng dám làm bất kỳ điều gì có thể làm miễn ních đầy
túi tham. Chúng sẵn sàng bán nước cho bất kể kẻ nào muốn mua, dù là
Tầu, Mỹ, hay Nga. Một ngày nào đó chúng sẽ tuyên bố giải tán Đảng
chưa biết chừng. Đó là lúc chúng đã “hạ cánh an toàn” với đống của
cải chiếm được. Cũng chưa biết chừng có những tên còn tự đứng ra,
hoặc cho con cháu đứng ra lập Đảng này, Đảng nọ, rồi lớn tiếng chửi
cái Đảng hiện tại hơn ai hết… để lại chiếm những ghế ngon lành
trong một chính quyền mới của những tên tư bản đích thực mà chính
chúng sẽ là đại diện!?

Lạy giời phù hộ cho đất nước khốn khổ
của tôi đừng rơi vào tay những chính trị gia đại cơ hội như thời kỳ
nhiễu nhương “hậu cộng sản” ở một số nước Đông Âu!

Hai năm vào Nam, ra Bắc, tôi đã gặp
khá nhiều bậc thức giả, công thần, tướng, tá vào tù ra tội một thời
chống Pháp, chống Mỹ vẫn một lòng trung thành, vẫn cố vớt vát cái uy
tín đã mất hết của Đảng bằng những “ý kiến đóng góp, xây dựng, kẻo
“Đảng ta đánh mất lòng tin trong nhân dân!”

(sic!) Hầu hết những tài liệu góp ý “Kính gửi, đồng kính gửi các
đ/c…Bộ Chính Trị, Trung Ương, Ban… thẩy đều bị các đồng chí đàn
em, đàn con, đàn cháu đang nắm quyền coi là “có hại cho an ninh quốc
gia, cấm không được phổ biến”. Chúng được photocopy chuyền tay nhau
đọc… như truyền đơn thời kỳ bí mật!

Riêng tôi, mỗi lần đến thăm một vị
tướng về hưu, một đảng viên kỳ cựu cùng thời, 50, 60 tuổi Đảng, khi
được cho xem những “tài liệu bí mật” ấy, tôi đều phát biểu thẳng
thừng
“Các cụ lại mắc lừa rồi! Chúng nó
đâu còn là đồng chí của các cụ, các bác nữa mà các các cụ, các bác
cứ “kính gửi” mãi thế! Nếu còn tinh thần cách mạng như xưa, việc làm
tốt nhất là tuyên bố ly khai vĩnh viễn với cái chủ nghĩa cộng sản
lỗi thời, với cái đảng mục rữa ấy đi thôi! Còn luyến tiếc nỗi gì!”

Một số đã xé luôn thẻ Đảng trước chi
bộ rồi tuyên bố ra đảng. Một số nộp đơn xin ra Đảng với lý do “không
thể chịu trách nhiệm trước nhân dân vì những chủ trương chính sách
hiện hành” như trường hợp lão đảng viên Nguyễn Văn Bé 60 tuổi Đảng ở
Nha Trang, như các anh Bảo Tân, Lưu Công Nhân ở Sài Gòn. Lưu Công
Nhân còn cười hềnh hệch “dí điện” mấy ông đảng viên kỳ cựu là “Tớ
vào Đảng sau mà bây giờ lại được ra trước, các vị vào trước mà sao
vẫn chưa được…ra sau là làm sao vậy?”
Đa số thì chọn con đường
rút lui không tuyên bố!

Tuy nhiên không ít vị, do được hưởng
quá nhiều bổng lộc, đã ăn quá nhiều bánh vẽ từ chính sách mị “cách
mạng lão thành” nên há miệng mắc quai, đành chọn thái độ…“gặp
thời thế thế thế thời phải thế”
, đóng cửa lấy Thiền làm lý tưởng
và lẽ sống những ngày cuối đời!

Riêng giới văn nghệ, chưa bao giờ tôi
thấy thái độ tránh xa thời cuộc lại phổ biến đến thế! Đầu thế kỷ thứ
21 rồi mà chẳng mấy ông biết Internet là gì! Ba không: Không
nghe, không thấy, không biết!
Đó là câu trả lời thường gặp khi
tôi hỏi đến các vấn đề gay cấn. Có ông còn khuyên tôi “Tình hình
chính trị hiện nay có nhiều điều “nhạy cảm”, đừng dại mà “lên mạng”
làm gì! Lên mạng bây giờ là “liều mạng” đấy!”
Văn nghệ sĩ càng
giầu thì lại càng mũ ni che tai hơn ai hết. Không những thế, do
chính sách “chia để trị”, các cuộc “khỉ vặt lông khỉ” càng phát
triển. Đảng cố tình ban phát quyền lợi không đều để các chú cắn xé
nhau mà quên sạch trách nhiệm, lương tâm trí thức và lẽ sống của trí
thức là sáng tạo.

Thời bây giờ chỉ cần viết dăm ba bài
báo vô thưởng vô phạt, lý luận chung chung là đã có số tiền bằng cả
ba năm gò lưng đẻ ra một cuốn tiểu thuyết, một vở kịch. Tên anh càng
to thì nhuận bút càng lớn. Không biết bao nhiêu nhà văn tự nguyện
“chuyển nghề” khi báo chí của Đảng nở rộ hơn nấm mùa mưa. Như vậy,
đã hiểu tại sao cái sự hèn nhát đến thời kỳ “Đổi Mới” tưởng chừng
phải mất đi, lại phát triển?

Sự trấn áp vẫn còn đấy, chỉ tinh vi
hơn, bằng cách đánh vào dạ dày không có tuyên bố nên tôi và các bạn
tôi vẫn cứ phải hèn…nhát. Trái lại, bọn cơ hội hãnh tiến cũng hèn,
nhưng không phải hèn nhát mà là hèn…bạo! Từ cơ chế bao cấp về văn
hoá văn nghệ chuyển sang văn hóa “kinh tế thị trường”, những ông
quan văn nghệ giờ đây được trao vào tay hàng loạt quyền mới, phương
tiện mới, dựa trên sức mạnh của tiền bạc tha hồ tự tung tự tác… Miễn
là không dính dáng đến chính trị! Từ chỗ bắt mọi người phải sáng tác
theo ý Đảng về cái Thật, cái Đẹp, cái Tốt bằng cái Dối Trá, cái Xấu
Xa, cái Bẩn Thỉu, nhà cầm quyền cộng sản thời kỳ này mở toang cửa
cho tất cả những gì là phản văn hóa nhất vào xã hội Việt Nam. Có thể
nói thẳng ra rằng để củng cố quyền lực, người ta sẵn sàng cho cả một
thế hệ thanh thiếu niên các thế hệ 8X, 9X…Việt Nam tự do…rơi
xuống đáy của lương tri, của tư cách, của tâm hồn. Lúc nhúc, lít
nhít, từ phường xã đến T.Ư, những tên thay mặt Đảng nắm mọi “đầu vào
đầu ra” của văn hóa, mà văn hóa của bọn này chỉ nằm trong một chữ:
Tiền! Chính nhờ những con dấu và chữ ký của bọn này mà có tình trạng
thầy giáo bán chữ, thầy thuốc bán toa, bán tính mạng người nghèo, và
văn nghệ sĩ bán… lương tâm! Tất cả chỉ vì chạy theo những đồng
tiền để tồn taị, để vươn lên bằng người, để được hơn người.

Nếu tội của những tên quan văn hóa
văn nghệ thời chiến tranh là cúc cung tận tụy làm theo cái gì mà
trên bảo là đúng –– kể cả hại bạn bè, đồng nghiệp –– thì tội của bọn
quan văn nghệ thời đổi mới này nguy hiểm và rộng lớn hơn nhiều. Đó
là từ những cái “cho phép” của bọn chúng, cả xã hội đang bị đầu độc
về tâm hồn, tư tưởng, đang bị tha hoá trong mọi mặt, ở mọi nơi, mọi
lúc, mọi người từ nông thôn đến thành thị, từ chị nông dân bị “quy
hoạch hóa” mất ruộng, ra tỉnh kiếm việc làm, đến ông giáo sư tiến sĩ
viện trưởng, từ cô ca sĩ tốt nghiệp nhạc viện chính quy đến ông nhạc
sĩ một nốt nhạc bẻ đôi không biết! Cả một mớ đại hổ lốn thực-giả,
giả-thực, hay-dở, dở-hay…hàng ngày, hàng giờ được phản ảnh bát
nháo trên báo, đài, tivi do Đảng lãnh đạo! Người khen, kẻ chê cứ tự
do thả cửa bốc nhau hoặc chửi nhau mà chẳng có luật chơi nào, chẳng
ai dám làm trọng tài vì hay-dở gì cũng có sự “lãnh đạo toàn diện của
Đảng” cả! Chạm vào có khi bị xử theo “luật rừng”, cấm cửa, nghỉ
chơi, tẩy chay thẳng cánh. Nhạc sĩ Trần Tiến bị ăn những ngón độc
thủ này phải gần ba năm làm “thầy lang” (không… băm) đi chữa bệnh
kiếm ăn, khi dám phê phán một số “nhạc-sĩ trẻ là “vô văn hóa”! Với
những ông già của “nền văn học phải đạo”
(chữ dùng của Hoàng Ngọc Hiến) người ta dùng đủ thứ huân chương,
bằng khen, giải thưởng, danh hiệu… kèm theo “tí tiền còm”, kể cả
tuyên dương “anh hùng lao động thời kỳ đổi mới” để thay cho băng keo
dán vào miệng. Đối với một số phần tử khó chịu và đáng ngại nhất
(những người thuộc các nhóm Nhân Văn, Đất Mới của thập niên 1950,
nhóm "xét lại chống đảng" thập niên 1960-1970) người ta lẳng lặng
cho lương hưu, cấp cho một căn hộ, thậm chí cho sang Mỹ, sang Pháp
đi chơi! Họ gián tiếp nói

“Chúng tôi đối với các anh tốt đấy chứ! Chuyện cũ do
các vị lãnh đạo cũ đối xử với các anh thế nào chúng tôi cóc
biết!”…

Cũng chính vào cái thời mà các nhà
chính trị, các nhà dân chủ công khai trực diện với bọn công an cộng
sản là lúc bọn “văn hóa tư tưởng” tung ra nhiều cái “bánh thật” với
văn nghệ sĩ nhằm bịt miệng những cái loa mà chúng cho là nguy hiểm
như các giải thưởng hàng năm, giải thưởng tổng kết, giải thưởng
Trung Ương, giải thưởng địa phương, giải thưởng đoàn thể (thanh
niên, phụ nữ… ), giải thưởng Ngành, giải thưởng Bộ, thậm chí cả
giải thưởng quận, giải thưởng phường. Chỉ một thành phố Đà Nẵng đã
dám treo cái “bánh thật” to tướng là 500 triệu đồng cho một bài hát
hay nhất viết về địa phương mình nghĩa là gấp 100 lần trung ương!
Tức là chỉ cần phẩy tay phối âm phối khí cho một ca khúc 16 nhịp
đánh đi, đánh lại trong dịp kỷ niệm 50 năm, 60 năm bịa ra ở một địa
phương, chỉ cần làm tổng đạo diễn cho môt buổi trình diễn múa hát,
xếp hình, tập aerobic trên sân vận động, một nhạc sĩ, một đạo diễn
có thể bỏ túi cả trăm triệu như chơi.

Cái thời nhà văn, nhà báo, nhà giáo
“nhà nghèo” được coi là “lương tâm của thời đại” đã được không ít
người chấm dứt bằng cách tận dụng thời cơ phớt lờ cái lương tâm ấy
đi mà thoát khỏi xiềng xích đói nghèo bằng những tác phẩm “chẳng
đụng đến ai để chẳng ai đụng đến mình!” Tôi được dự một bữa tiệc
mừng giải thưởng Hồ Chí Minh có món tiền thưởng 30 triệu đủ mua một
xe máy Dream mà người được giải chua chát nói
“Hãy coi đây là một cuộc xổ số! Tiền của
dân, họ ăn nhiều rồi nay chia cho mình một cái móng tay, tại sao
không nhận”?

Khinh thường, tởm lợm cái quái thai
xã hội chủ nghĩa với chiếc mặt nạ “công bằng, dân chủ, văn minh”…
là đề tài bất tận ở khắp nơi, nhưng ngón lừa như trên không hẳn hoàn
toàn không gặt hái được thành công.

Chỉ cần móc túi của dân quẳng ra cho
các vị vài trăm đô la với mảnh giấy có kèm theo một “đồng xèng” mạ
vàng giả –– huân chương –– những mẹ mìn thời hiện đại đã bịt miệng
được không ít những bầu nhiệt huyết của mấy nhà thức giả gần đất xa
trời… Chẳng thế mà, tới ngày được gọi ra lĩnh cái giải thưởng Hồ
Chí Minh hay giải thưởng Nhà Nước, cái danh hiệu Nghệ sĩ Nhân Dân
hay Nghệ sĩ Ưu Tú, lũ lượt các cụ đều lẩy bẩy chống gậy hoặc nhờ con
cháu dìu ra để nghe các cháu lãnh đạo đọc sai cả họ lẫn tên mình (vì
nhầm dấu, hay không biết các cụ là ai?). Cuối cùng là phải đưa bàn
tay run rẩy ra bắt tay một tên cha căng chú kiết nào đó, thay mặt
Đảng, trao cho cái phong bì đựng chút tiền còm! Nhục ơi là nhục! Hèn
ơi là hèn!

Nhưng, cũng phải thừa nhận một sự
thật cay đắng là nhờ trò bịp ấy mà ít nhất nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương
có tiền sửa căn nhà nhỏ đang xuống cấp trầm trọng trong con hẻm ở
quận Bình Thạnh, họa sĩ Lưu Công Nhân, nhạc sĩ Văn An, nhà thơ Thu
Bồn… cũng đỡ cho vợ con phải “nhịn ăn mua thuốc cho chồng” từ
nhiều năm bị Parkinson, xuất huyết não, liệt nửa người! Cái sự hèn ở
thời kỳ này theo tôi, còn đau khổ hơn cái hèn làm “văn nghệ công
chức” và phải gọi nó là…Hèn Hạ, nghĩa là cấp thấp của sự hèn!
Chẳng còn gì trói buộc mà sao các bậc thức giả nước ta, các bậc đàn
anh của tôi vẫn không cùng nhau lên tiếng?

Và thế là, chờ đợi mỏi con mắt, nhân
dân chỉ thấy lác đác vài sự thật qua Trần Độ, Hà Sĩ Phu, Hoàng Tiến,
Nguyễn Thanh Giang… phanh phui, đưa lên Internet, được quần chúng
trong và ngoài nước biết đến, nhưng mỗi vị cũng mới chỉ gióng lên
một tiếng chuông theo cái điệu riêng lẻ của mình! Thật là hiếm thấy
một Phùng Quán, một Trần Dần, một Lê Đạt thời hiện đại. Một vài bước
đi mạnh dạn của Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, đặc biệt là của Dương
Thu Hương sao quá hiếm hoi… Còn lại chỉ là kiểu “chửi đổng” ở cái
Câu Lạc Bộ Thăng Long, là dăm ba câu vè cay cú, mấy mẩu “tiếu lâm
hiện đại” phổ biến cho nhau lúc trà dư tửu hậu, khi gặp nhau ở các
nhà tang lễ hoặc đi thăm hỏi nhau ở bệnh viện, lúc đã méo mồm, bại
liệt! Còn lại, đa số đều bị khoá miệng bởi những miếng bánh cỏn con
của các cháu lãnh đạo.

Một số lại yên lặng hưởng thụ hiệu
quả “kinh tế thị trường” do con cháu nắm bắt được thời cơ, đang phất
lên như diều, “trúng quả” bằng mọi cách, kể cả phạm pháp để làm
giàu! Chẳng tìm đâu ra một ngọn cờ có thể tập hợp những cái đầu và
những con tim có gan dám cùng làm một điều gì đó, dù nhỏ nhoi nhưng
có tính chất tập thể…

Hai năm chống nạng đi khắp đó đây,
gặp gỡ các vị cách mạng thứ thiệt “thời đánh Pháp, đuổi Mỹ”, tôi
càng phát hiện thêm lắm… loại hèn! Nhưng hèn nhất vẫn là những nhà
chính trị một thời đã quá tin vào cái tôn giáo ngoại lai duy tâm hơn
tất cả mọi tôn giáo lạc hậu nhất cộng lại, nay đã bị xếp xó mà không
chịu tự nhận mình đã lạc đường và vẫn tiếp tục bị lợi dụng, bị mua
chuộc để…câm họng! Đố tìm ra vài ông cộng sản “cỡ bự” như
Gorbachov, Eltsine… tự hạ cờ của Đảng mình, đứng ra xây dựng một
thể chế mới, giải phóng đất nước khỏi cái ảo ảnh xã hội chủ nghĩa,
cộng sản chủ nghĩa lừa bịp!

Dám làm cái việc “trở cờ”, “phản bội”
này đối với họ quả là khó hơn đi vào chỗ chết! Họ không bao giờ dám
có can đảm nhận chính họ ở trong đám thủ phạm mà chỉ lép bép tự bào
chữa rằng mình cũng là nạn nhân! Tôi chẳng vui gì khi đọc những tài
liệu mà họ hoặc bạn bè họ phát tán trong đó mấy ông còn tự coi mình
là “cộng sản chân chính”, vạch ra sai lầm của những nhà lãnh đạo trẻ
đương thời cũng chỉ nhằm mục đích làm…trong sạch hàng ngũ Đảng
Cộng Sản! Cứ làm như nếu xã hội ở trong tay các vị thì sẽ có chủ
nghĩa cộng sản chân chính, sẽ có công bằng xã hội! Một số thì, qua
những tài liệu “inédit”

(
[14])
lại nặng về giải thích tội lỗi của mình là do…cấp trên bảo phải
làm thế như kiểu “Chiều Chiều” của Tô Hoài.

Sự “sám hối muộn màng” này, theo tôi,
chẳng dũng cảm gì. Nó chẳng qua cũng là một dạng hèn! Nó thường xảy
ra với những người có thời gian được ân sủng khá nhiều. Họ bày đặt
mỉa mai những người đang làm “quan văn nghệ” hiện hành, nhất là đối
với các đàn em đang vỗ ngực là cộng sản thời đổi mới! Phải chăng họ
cố tình quên đi những nghị quyết, những chỉ thị mà họ từng họp bàn
để đưa một Hữu Loan, một Phù Thăng xuống bùn đen, đưa một Văn Cao,
Trần Dần đến chỗ chết cả tâm hồn, tác phẩm, lẫn thể xác? Phải chăng
họ thấy chưa đủ quyền hành sinh sát, lợi lộc, bởi có ông tới 40 lần
thay mặt mọi ngành văn nghệ đi công du khắp thế giới để… kiếm chác
vẫn chẳng thấm gì với lương bổng, nhà cửa, xe cộ mà mấy ông quan văn
nghệ thời “đổi mới” đang được hưởng?

Loại này, hèn còn hơn cả “lớp hèn yên
lặng”, “lớp hèn chịu đựng” và “lớp hèn…kệ mẹ!”

Vậy tinh hoa đất nước giờ đâu tá? Hay
bị…“hèn hoá” cả rồi? Ai cũng hèn như tôi sao? Ai sẽ người được
“thời thế tạo nên anh hùng đích thực” của thời đại này? Ai sẽ đưa
con thuyền Việt Nam khỏi con đường vô định này, nếu những người hèn
vẫn không dám nhận là mình hèn, không kiên quyết giã từ cái ngu dại,
không lên án những gì mà mình làm tưởng là “vinh quang rực sáng” lại
chính là “tội lỗi ngút trời”, không biết khuyên nhủ con cái chớ có
dẫm vào vết chân đầy máu và nước mắt mà mình đã đi qua…

Và cuối cùng, phải kiên quyết giã từ
cái quá khứ đầy vinh quang vô ích của mình.

Chỉ có sự giác ngộ chính trị cuối
cùng này mới giải toả được mọi nỗi đau. Sự “trở cờ”, “phản bội” để
“đi tìm một sự trung thành mới” như Jean Paul Sartre nói không ai
dám làm ư? Vì còn… sĩ diện! Vì còn bị quá khứ níu kéo?

Bỏ một thứ tà đạo, một niềm tin mù
quáng, vứt vào sọt rác cái chiêu bài hoen rỉ, mốc meo, chẳng khác gì
ly dị một con vợ độc ác, chẳng yêu gì mình khó lắm sao? Mà rất ít
“thức giả” dám tuyên bố công khai: “Tôi từ bỏ chủ nghĩa cộng sản”!

Chỉ cần vài chục, vài trăm nhà văn,
nhà khoa học, tướng, tá…dám cùng ký tên vào một “bản tuyên bố
chung”, công khai với toàn thế giới rằng: “Chúng tôi, những cựu đảng
viên Cộng Sản sau khi thấy…,nay tuyên bố tự giải tán! Mọi sự ngộ
nhận là cộng sản, chúng tôi không chịu trách nhiệm!” Lập tức sẽ xảy
ra một cuộc “cách mạng nhung” ngay mà người ủng hộ hết lòng chính là
các đảng viên cộng sản bất đắc dĩ hôm nay còn cầm thể đảng viên!

Sở dĩ bọn Tư Bản Đỏ còn cố giương cao
ngọn cờ vô sản đã bị thiêu rụi ở tất cả các nước sản sinh ra nó vì
chúng đang còn nhờ vào miếng võ độc “vô sản chuyên chính” là… còng
số 8, nhà tù, họng súng để tồn tại!

Mặt khác, bọn chúng còn dựa vào uy
tín của một số tên tuổi mà lịch sử khó thể bỏ qua về những thành
tích vào tù ra tội thời chống thực dân, để tỏ vẻ “ta đây” vẫn “tiếp
nối truyền thống cha anh”, “nối gót các bậc tiền bối”… để các vị
“cách mạng lão thành” còn sót lại (đa số đã ở cái tuổi, 80, 90 cả)
cảm thấy nở mày nở mặt chút ít trước khi được bọn chúng…đóng đinh
vào nắp quan tài mời các cụ “về với Bác” cho khỏi vướng chân, vướng
cẳng!

Và khi chỉ còn lại có các ông “tư bản
đỏ” sinh sau đẻ muộn, thậm chí cả những vị “cộng sản miệng còn hơi
sữa” mới được kết nạp vội vàng sau 1975, mọi chuyện sẽ xảy ra. Cá
đối bằng đầu chẳng ai phục ai. Trên bảo dưới không nghe, dưới nhìn
trên nhổ nước miếng.

Cuối cùng, chỉ cần một “đại hội” nào
đó, người ta sẽ tuyên bố…“Đổi tên Đảng!” hoặc mạnh hơn, là “Giải
tán Đảng để thích ứng với thời đại”… chẳng hạn. Thế là cách mạng
mà…chẳng mất mạng ai cả sẽ xảy ra. Lớp chánh choẹ gia cũ, mới…
nào đó chẳng còn lý do mà không đổi ngay cái tên nước, thay cờ, thay
quốc thiều, quốc huy. Thời kỳ xã hội chủ nghĩa sẽ được con, cháu,
chút, chít chúng ta nhắc lại như một thời kỳ…tiền đồ đá, tiền đồ
đồng, tiền trung cổ ở Việt Nam = thời kỳ đồ đểu!

Dù sau cộng sản có là thể chế gì đi
nữa, dù đất nước có khủng hoảng rối bời vì sự đấu tranh của nhóm
này, nhóm khác, đảng này, đảng khác thì, lúc đó, cái quyền được độc
lập suy nghĩ, được tự do phát biểu, được phản đối hay đồng ý, được
phế bỏ hay duy trì một ông thủ tướng như ở các nước xưa cũng thuộc
địa như mình, cũng sẽ hay ho gấp triệu lần cái thể chế lưu manh cả
đống” này! Cũng sẽ chẳng còn kẻ nào dám ra tay đàn áp.

Sẽ không còn chỗ đứng cho những kẻ
bất tài, những tiến sĩ, giáo sư Mác-Lê-Xít-Mao mà chưa học quá bậc
phổ thông, ngồi mọc rễ ở những chiếc ghế chủ tịt, thủ tướng, bộ, thứ
trưởng!

Sẽ không còn chỗ đứng cho những văn
sĩ i tờ, nhạc sĩ không biết son phe, hoạ sĩ chuyên vẽ cờ búa liềm
bay trên đầu công nông binh hoặc nguệch ngoạc bằng chân lên tấm vải
những hình tròn méo xanh, đỏ, tím, vàng để bịp quần chúng!

Sẽ đến thời kỳ mà đen phải ra đen,
trắng phải ra trắng, người có tài và tên cơ hội phải được phân biệt
rõ ràng! Sở dĩ bọn cộng sản giả danh này cố tình dây dưa, níu kéo
cái đuôi Xã Hội Chủ Nghĩa càng lâu càng tốt vì chúng chưa chuẩn bị
xong cuộc tháo chạy khỏi con tầu đang chìm, vơ vét chưa đầy túi mà
thôi!

Chẳng thế mà khi Lê Khả Phiêu công du
sang Italia, trả lời các nhà báo về chuyện làm sao các ngài “chưa
đổi tên nước, tên Đảng cho phù hợp với thực tế đang diễn ra ở đất
nước các ngài”
, Phiêu đã nhắc lại lời của Phạm Văn Đồng khi còn
sống: “Các ông hãy nhìn những gì chúng tôi làm… cái tên đâu có
là quan trọng!”
Nghe nói các tên trùm bảo thủ đã dựa một phần
vào các tuyên bố “thật thà” trong chuyến đi Tây của Phiêu để đánh
hắn một cú chết tươi.

Người Mỹ, người Đức, người Anh –– cả
tôi nữa –– đâu có ngây thơ đến nỗi không biết điều giả dối này. Vì
thế họ mới chịu… “tạm chơi” với chúng để đẩy nhanh cái ngày chúng
cởi phắt cái áo cộng sản giả hiệu ra! Họ tạo điều kiện cho con em
mấy chú Nguyễn Tấn Dũng, Trần Xuân Giá…đi “du học chơi” đâu có
phải là họ OK chủ nghĩa cộng sản! Họ cử chuyên gia đủ loại kinh tế,
luật pháp, quản trị hành chính, ngôn ngữ… tới Việt Nam đâu phải để
củng cố cho chủ nghĩa cộng sản! Họ đang đẩy mạnh ngày xuống mồ của
nhóm mafia cầm đầu đấy! Họ biết thừa rằng càng kinh tế thị trường
thì nội bộ bọn chúng sẽ tự đào hố chôn nhau! Chẳng cần mang quân
sang như tại Afghanistan, Irak làm gì! Cái mà người ta gọi là “diễn
biến hoà bình” đang được chính những người “cộng sản dởm” tổ chức và
chuẩn bị để hạ cánh an toàn trên danh nghĩa, cương vị hợp pháp mới:
những nhà tư bản, tài phiệt mới… Mọi trật tự để thực hiện những gì
mà các nước “giã từ cộng sản” đã trải qua đang được tiến hành. Chỉ
khác là ở Việt Nam, những kẻ cầm quyền xảo quyệt và trơ tráo hơn
những nước “anh em”. Chúng không tuyên bố như Gorbachov, như Eltsine
mà làm thay đổi ngay “hạ tầng cơ sở” trước, biến tất cả của công,
tài sản quốc gia thành của tư trước khi thay đổi thượng tầng kiến
trúc, thay đổi thể chế!

Nước Việt Nam cộng sản sẽ vào AFTA,
WTO, sẽ là bạn của Mỹ và của bất cứ ai vì bọn mafia CS đã từ bỏ chủ
nghĩa cộng sản, đã cắt cái đuôi xã hội chủ nghĩa từ lâu rồi!

Tuy nhiên, trước sự phản đối của
những tên “vua không ngai” với bọn tay chân được bố trí vào các chức
vụ quan trọng nhất, mọi việc “làm mà không nói” đều được bỏ qua. Thế
đấy, cái mặt trái xấu xa, bẩn thỉu, đểu cáng từ bản chất của bọn
chúng càng ngày càng lộ nguyên hình, đểu cáng, dối trá trắng trợn
trước dư luận trong và ngoài nước khiến bọn chúng không thể
không…làm thịt nhau trước giờ G. Đó là “bọn lau nhau cấp thấp” ăn
cướp, ăn cắp, chia chác không đều bị nhân dân (và vài tờ báo “được
phép có giới hạn”) vạch ra nên không thể xử lý nội bộ mãi nữa! Để ra
cái điều chủ nghĩa cộng sản là ưu việt, là dân chủ, một số biện pháp
nửa vời, bịp bợm được đề ra như thành lập uỷ ban này, ủy ban nọ,
chống cái này, cái kia, xử lý “giơ cao đánh khẽ” một số “con dê tế
thần” đã được chọn lựa…để nhân dân khỏi lần ra đầu dây, mối nhợ sẽ
làm lộ toác bề hê ra các Bố Già mafia nằm ngay ở đầu não, hang ổ các
thứ Bộ Chính Trị, Ban Bí Thư, các Tỉnh ủy, Huyện ủy, Xã ủy, Đảng
ủy…mà chúng tự “cơ cấu” để cùng nhau…thà chết không rời cái lý
tưởng “Cướp! Cướp hết!” trước khi…hạ cánh an toàn!

Trong thời gian làm cộng tác viên
thường xuyên của báo Sài Gòn Giải Phóng, tôi đã được nghe tận tai,
nhìn tận mắt những lời kể, những tấm ảnh về các nhân vật VIP cỡ bự
đã gián tiếp hoặc trực tiếp, khai sinh và nuôi dưỡng các loại “âm
binh” như Nguyễn Văn Mười Hai, Minh Phụng-Epco, Vietcombank…để
chúng lấy cả ngàn tỷ đồng của dân ra sao. Khi những vụ này đổ bể,
tất cả báo chí đều được lệnh của… tuyên huấn là nói đến đâu, không
nói cái gì…Nhưng tại các cuộc “bình loạn” sau giao ban, ở căng tin
hay các cuộc trà dư tửu hậu, các cây bút trẻ chẳng ngần ngại phổ
biến những gì mà lúc đi điều tra để viết bài, họ đã tìm thấy…Tuy
nhiên “xếp” (tổng biên tập các báo) đã yêu cầu họ viết hạn chế đến
đâu kẻo xếp mất ghế! Thế là cái sự thật trần truồng tuy chẳng thành
giấy trắng mực đen lại luôn được “phổ biến nội bộ” để rồi bí mật của
ba người trở thành của… tất cả! Cũng chính được trực tiếp làm việc
với số anh em trẻ, mà tôi thấy cái hơn hẳn của họ đối với chúng tôi,
lớp “về vườn”, lớp “hèn cả đời”. Chính họ, chứ không phải ai khác,
đã và sẽ đâm những nhát kim tẩm độc vào “con voi cơ chế này”, đâm
nhẹ nhàng, từng phát, từng liều, để voi lăn đùng một ngày không xa.
Cái giỏi của họ là biết dùng thủ pháp khôn khéo, biết “phạm thượng”
mà không sợ bị “đòn hiểm” và sẵn sàng từ bỏ “nồi cơm báo chí cách
mạng” nếu cần.

Tóm lại, họ chẳng tin ai, chẳng tin
thứ chủ nghĩa nào, chẳng cần “biên chế hay không biên chế” và luôn
mong đứng trong hàng ngũ…nhân dân hơn là “bị” mời gọi vào cái Đảng
chết tiệt đầy tai tiếng, vô lý tưởng!

Họ không hèn khốn hèn khổ như lũ
chúng tôi xưa kia để tồn tại! Đằng sau họ, là một lực lượng lớn
những trí thức, văn nghệ sĩ, giáo sư, học giả chân chính, những
trưởng lão đạo giáo “ngoài quốc doanh”… với đủ loại động cơ tốt,
xấu… cũng đã rục rịch, cựa quậy…

Dù chưa có một “ngọn cờ” tập hợp,
nhưng những gì họ đã làm, đã viết, đã công bố trên Internet, cũng
thức tỉnh được lương tri nhiều người ở cả trong và ngoài nước.

Nhưng cái lớn nhất mà nhà cầm quyền
không thể lường hết là từ sự mất lòng tin, sự khinh bỉ, phỉ nhổ thậm
chí căm thù của triệu triệu con người. Hàng loạt đảng viên đã từ bỏ
Đảng, thôi sinh hoạt, hàng loạt trí thức, học giả đã bất cộng tác,
không viết, không làm những gì trái với tiếng nói của lương tri và
con tim…

Tôi sẽ mãi mãi mang nỗi căm giận
xuống địa ngục nếu không có hai năm cuối đời được đi đây đi đó, được
gặp gỡ bạn bè, đồng đội, “đồng ngũ – đồng ngu”, được tiếp cận với
Internet, được nghe và đọc những gì muốn nghe, muốn đọc, để thấy
được
CÁI GỌI LÀ CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN CHÍNH
LÀ MỘT TÀ GIÁO ĐẠI BỊP NHẤT TRONG LỊCH SỬ LOÀI NGƯỜI MÀ NHỮNG TÊN
LÃNH TỤ TỐI CAO CỦA CHÚNG DỰA VÀO ĐỂ GÂY CHIẾN TRANH NỔI DA XAO
THỊT, ĐỂ TIẾN HÀNH ÂM MƯU HIỂM ĐỘC TIÊU DIỆT MỌI LÒNG TIN KHÁC, MỌI
NHẬN THỨC, MỌI TÌNH CẢM, MỌI TÌNH YÊU, KỂ CẢ LÒNG YÊU NƯỚC CỦA CON
NGƯỜI!

Từ những thời xa xưa, từ Âu sang Á,
một Tần Thuỷ Hoàng, một Néron cho đến lịch sử cận đại, một Lê Nin,
một Stalin, một Mao Trạch Đông, một Hồ Chí Minh, cái “sai” luôn
thuộc phía những ai có ý nghĩ khác với kẻ đang cầm quyền. Đó là
những Trotsky, Zinoviev, Kamenev, Boukharine,
(
[15])

là Vaclav Havel, là Imre
Nagy,
(
[16])

là Trần Độ, Hoàng Minh
Chính, là Trần Xuân Bách ở Việt Nam. Hàng loạt cái chết bí ẩn hoặc
công khai của các nhà chính trị, thức giả…(mà phương Tây dùng chữ
“dissident”) ở Việt Nam sau này cần làm rõ. Họ bị bọn cầm quyền chụp
cho đủ thứ mũ “phản động”,“chống đối”,“âm mưu lật” đổ”, thậm chí cả
“gián điệp”…Toàn những “tội” mà theo pháp luật do chúng đặt ra,
phải đem bắn! Tuy nhiên, cái thời kết tội Nguyễn Hữu Đang

(
[17])

là gián điệp “lọt vào Đảng
từ năm 1943 để phá hoại” để kết án ông, người đồng chí đã tổ chức
cho ông Hồ ra mắt đọc mấy lời sao chép từ các bản Tuyên Ngôn Độc Lập
của Hoa Kỳ, của Pháp tới gần 15 năm tù đã qua. Chẳng còn có thể bỏ
tù Hoàng Minh Chính lần thứ tư, chẳng dám kết tội Phạm Quế Dương là
“gián điệp”, chẳng còn dám thủ tiêu một Nguyễn Hộ, một hoà thượng
Thích Quảng Độ, một linh mục Nguyễn Văn Lý, một Chân Tín, một Nguyễn
Đan Quế… Mọi cuộc đàn áp dù là gọi lên cảnh cáo, cách ly, cấm cố,
cắt Internet, điện thoại, theo dõi hay bắt giam, bỏ tù không xét xử,
đến hôm nay, chỉ trong vòng một ngày là cả thế giới đều biết và lên
tiếng phản đối ngay đã không cho phép nhà cầm quyền dễ dàng thẳng
tay như thời “vô sản chuyên chính” những năm 1956-1960 nữa!

Tôi ước mong một ngày được thấy một
Hoa Xuyên Tuyết,
một Đêm Giữa Ban Ngày, một
Hoa Địa Ngục xuất hiện trên quầy sách cùng với những “cánh
chim báo bão” trong nước. Tôi chờ một Bảo Ninh, một Nguyễn Huy
Thiệp, một Bùi Minh Quốc…lên tiếng bằng một loạt tác phẩm xé rào. Dù
xuất phát từ động cơ nào, ngòi bút của họ đã góp phần đánh thức
lương tri người đương thời, thổi ngọn gió vào đám cháy lớn, viết lại
những trang lịch sử bị xuyên tạc hoặc đang để trống.

Chính những cuộc gặp gỡ, những tài
liệu, những tuyên bố, những kiến nghị, thậm chí cả những án tù đểu
cáng mà các bạn tôi, các đồng chí cũ của tôi phải trả giá cho sự
Không Chịu Hèn Nữa của họ đã truyền thêm sức mạnh cho tôi phải hoàn
thành gấp cuốn hồi ký để càng sớm công bố càng tốt. “Bi quan chủ
nghĩa”, chán nản, thậm chí uất hận trước tình hình Cái Ác lộng hành
hàng ngày xảy ra ngay quanh cái xó xỉnh ngoại thành Nha Trang này đã
nhường chỗ cho một lòng tin trong tôi vào lớp trẻ có lương tri, có
học vấn “thật”, vào lớp già đã thức tỉnh khi thấy được sự “tòng phạm
vô ý thức” của mình mà ủng hộ những gì có thể vạch trần bộ mặt thật
của cái xã hội “nửa dơi nửa chuột”.

Và tôi đã đọc lại nó, sửa chữa, bổ
sung một số tài liệu với nhận thức mới, tình cảm mới, niềm tin
mới…Tuy nhiên, ở cái tuổi 75, sức tàn, lực kiệt, tôi không đủ sức
viết lại toàn bộ mà chỉ có thể viết thêm một chương cuối có tên “Tôi
đã hết hèn!” Vì thế, toàn bộ những gì đã viết trước đó vẫn chỉ là
những trang hồi ký của một thằng hèn, hèn đến cuối đời mà thôi nên
xin cứ gọi đây là HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN!”

Nha trang một ngày sống thêm
trong tiếc nuối…

30 tháng 6 năm 2002

Những ngày chờ một cơn bão sẽ nổi…





 



 



([1])

Hồ Viết Thắng
trong cải cách ruộng đất (1953-1956) ở miền Bắc Việt Nam giữ
chức uỷ viên thường trực Uỷ Ban Cải Cách Ruộng Đất Trung
Ương mà chủ tịch uỷ ban là Trường Chinh, phó chủ tịch là
Hoàng Quốc Việt. Theo lời đồn, người vợ không chính thức
cuối cùng của tổng bí thư Lê Duẩn là con gái Hồ Viết Thắng.
 


([2])

Hồi ký của Hoàng Tùng, nguyên chủ nhiệm báo Nhân Dân.


([3])

Tập bài viết của
hai giáo sư Trần Khuê, Nguyễn Thị Thanh Xuân. 


([4])

Omertà (tiếng Ý) –– luật “câm nín” (im lặng, không được tiết
lộ bí mật), rất phổ thông và rất được tôn trọng bởi sự thực
hiện nghiêm khắc “tử hình” cho kẻ vi phạm trong các tổ chức


Mafia
,


Ndrangheta
,


Camorra

ở các địa phương 


Sicily
,


Calabria



Campania
.


([5])

Alphonse Gabriel "Al" Capone (1899-1947), biệt danh Mặt Sẹo,
một trùm “găng-xtơ” Mỹ gốc Ý trong thời kỳ có luật cấm rượu
ở Mỹ vào hai thập niên 1920, 1930.
 


([6])

Hippocrate (460 trước CN?), thầy thuốc nổi danh thời Cổ Đại,
được mệnh danh “cha đẻ của y thuật”


([7])

Hải Thượng Lãn Ông
tức Ong Già Lười Hải Thượng (1720-1791), người Hải Dương,
được coi như người dựng nền cho nền y học dân tộc. 


([8])

Trong vụ án đáng xấu hổ này nguyên đơn là nhà thơ lớn Huy
Cận kiện con trai chiếm đoạt mảnh vườn trước phòng của Xuân
Diệu (khi Xuân Diệu còn sống, hai nhà thơ thân thiết ở chung
một ngôi nhà), viện cớ Xuân Diệu coi anh ta là con nuôi và
anh ta có quyền thừa kế.   


([9])

Paul Cézanne (1839-1906), danh hoạ Pháp phái Hậu Ấn tượng.


([10])

Claude Monet (1840-1926), danh hoạ Pháp phái Ấn tượng


([11])

Pablo Picasso (1881-1973), danh hoạ Tây Ban Nha cận đại.


([12])

Lối viết chữ
nguệch ngoạc bậy bạ trên tường nhà, trên thành các toa xe..,
ở bất cứ đâu có thể viết, rất phổ cập ở các nước phương
Tây. 


([13])

Hôn, hôn nữa đi! (tiếng Anh). 


([14])

Chưa xuất bản. (tiếng Pháp). 


([15])

Những đồng chí của Lenin và Stalin trong hoạt động cách mạng
rồi lần lượt bị “thanh trừng” sau khi cách mạng thành công.


([16])


Imre Nagy (
18961958),
nhà hoạt động chính trị


Hungaria
,
thủ tướng Hungaria trong cách mạng 1956. Hai năm sau ông bị
hành quyết sau khi cuộc cách mạng bị đè bẹp bằng võ lực của
Liên Xô.


([17])

Nguyễn Hữu Đang (
19132007)
nhà báo, một trong những người sáng lập



Hội Truyền Bá Quốc Ngữ
,
từng làm thứ trưởng bộ Thanh Niên trong chính phủ lâm thời
nước


Việt Nam Dân Chủ Cộng
Hòa
.
Bị kết án 15 năm tù trong vụ án Nhân Văn  Giai Phẩm.

 

 

Chương kế tiếp:
Vĩ thanh 2006

Mục
lục

 

Không thể chết trong im lặng | Tô Hải

HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN

Tô Hải

KHÔNG THỂ CHẾT… TRONG IM LẶNG

Tập hồi ký này, tôi đã bắt đầu và mong sớm kết thúc
trong vòng 10 năm trở lại! Ai ngờ cái hy vọng cuối cùng đó không
thành hiện thực.

Tưởng rằng ở tuổi 60, về hưu, thoát mọi thứ sinh
hoạt, mọi sự xăm xoi của mọi tổ chức thuộc cái đảng cộng sản đáng
nguyền rủa kia, tôi sẽ thảnh thơi, đóng cửa, viết bản “thú tội” của
mình với lịch sử. Nào ngờ, cái “hèn” nó cứ nhũng nhẵng, cứ đeo đuổi,
kéo chân tôi lại…đến nỗi, lắm lúc tưởng như đành bỏ cuộc. Tới khi
tôi tiếp tục cầm bút viết những dòng sắp tới đây, tính ra đã…13
năm.

13 năm sống sót qua bao vật đổi sao dời của cuộc sống
khốn nạn do cái đảng gọi là cộng sản tạo ra, đã xóa bỏ, đè bẹp, giết
chết mọi ý chí muốn sống, muốn suy nghĩ và làm việc không theo cái
khuôn do nó nhào nặn bằng cả thiên la địa võng những chủ trương
chính sách vô luân! Tôi làm sao có thể tự do khi bị cái chính sách
“giá-lương-tiền” của nhà thơ phó thủ tướng Tố Hữu làm cho đồng lương
hưu còm cõi của mình bị cướp dần cướp mòn mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi
năm, cho tới khi nó chỉ còn giá trị tượng trưng hơn là giá trị của
đồng tiền nuôi sống con người.

Cây đàn piano Chợ Lớn, dàn máy Teac, chiếc PC cà
tàng, rồi đến cả đĩa hát, sách nhạc… cứ từ từ theo nhau về với các
nhà giầu mới nổi qua tay các “con phe”, dù tôi không đủ can đảm trực
tiếp làm cái việc “bán văn hóa”.

Thiếu thốn lần này không đến nỗi như thời còn làm
lính ông Hồ với tem phiếu ở Hà Nội, nhưng cay đắng nhục nhã thì gấp
ngàn lần, nhất là sống trong một thành phố như Sài Gòn những ngày
đầu “đổi mới”, những ngày mà người ta không từ thủ đoạn nào để làm
giầu theo lời kêu gọi chính thức của ông Đỗ Mười!  Mọi sự táng tận
lương tâm, mọi sự hủy diệt giá trị con người, mọi sự vơ vét, cướp
bóc, buôn lậu, đĩ điếm… đều phát triển theo cấp số nhân!

Tôi phải làm gì đây để có đủ hai bữa ăn, trả tiền
điện, tiền nước, tiền nhà với đồng lương hưu nhỏ nhoi mà ông Nhà
Nước chi ra rồi lại thu hồi?

Khác với các ông đại tá làm trật tự ở bến xe, bán
nước…chè chén, bơm vá xe đạp, tôi còn được một số anh em có thời
cùng “phe” tôi, nay còn sót lại (cuối những năm 1980) động viên hãy
tiếp tục “cống hiến”, tiếp tục “đấu tranh”! Chao ôi, tôi như con hổ
gãy nanh, gẫy vuốt, làm sao có thể cất lên một tiếng gầm? Nhất là hổ
đã già, bị nhốt trong chuồng. Tuy nhiên nhìn thấy cảnh gia đình, bạn
bè “đồng ngu” như tôi, nghe một bác sĩ già bạn tôi đã về hưu than
thở: “Nhìn thấy bát phở mà thèm”, tôi bỗng tỉnh ngộ. Quyết
không thể tiếp tục đi theo con đường của các ông bạn về hưu khốn khổ
nói trên được.

Phải sống! Tôi phải sống.

Vì có sống tôi mới có thể làm nhân chứng cho cái thời
đại… đểu cáng nhất trong lịch sử nước tôi, chẳng tư bản, chẳng
cộng sản, chẳng ra ngô ra khoai, chẳng phải, chẳng trái, chẳng luân,
chẳng lý, chẳng luật, chẳng pháp, thậm chí chẳng cha mẹ, anh em, họ
hàng, làng xóm gì hết! Tất cả đều là TIỀN, TIỀN và…TIỀN, dù là cái
đồng tiền in thoải mái, phát tự do, xài thả cửa, giảm giá từng ngày,
nhưng một người bình thường không thể không có nó.

Vậy là, mặc dù hổ đã “quá đát”, “hổ” vẫn đành bị buộc
tiếp tục chạy quanh làm vài trò “xiếc hổ”, chẳng còn mấy đắt khách:
Tôi đã nhận làm…báo!

Ba năm làm báo ăn (thêm) lương hợp đồng và hàng tuần
được “đứng” hẳn một trang chuyên mục Chuyện Lạ Văn Hoá Nghệ Thuật
Thế Giới
, tôi đã nhờ ngòi bút không cần bẻ cong mà tiếp tục lai
rai viết nốt những trang hồi ký bị bỏ dở với sự ủng hộ của Vũ Tuất
Việt, nguyên phó ban Tuyên Huấn, người từng có cùng quan điểm với
tôi trong nhiều vấn đề, nay nắm chức tổng biên tập tờ Sài Gòn Giải
Phóng kiêm đại biểu Quốc Hội. Tôi lại nuôi hy vọng sẽ đánh động được
lương tâm một số người như Tuất Việt và… trên Tuất Việt, những
người mà tôi tin họ có suy nghĩ đúng, thậm chí sáng suốt hơn tôi,
nhưng họ chưa muốn “đúng sớm” và chết vì cái…đúng quá sớm! Họ đang
tích lũy “nội lực” để có thể làm được “cái gì đó” to tát hơn là các
bài báo công kích những râu ria của văn hóa thị trường như tôi. Và
quả thế, từ một tướng Trần Độ, khi làm trưởng ban Tuyên Huấn Trung
Ương ngày nào còn đi rao giảng cái hay cái đẹp của một tên Để chết
tiệt nào đó ở Thanh Hóa nghe lời Đảng tập họp nông dân thành lập hợp
tác xã cao cấp theo biên chế đại đội, tiểu đoàn, y như một đơn vị
chiến đấu, cho đến một Trần Độ trở thành kẻ thù một mất một còn của
cái đảng hạ lưu và tàn bạo nhất thế giới này, anh đã phải trải bao
trăn trở, tự dày vò, phải đấu tranh với chất giáo điều trong chính
anh cực nhọc gấp ngàn lần người khác để có quyết định cuối cùng:
Đứng về phía nhân dân, lên án những kẻ bao năm cùng anh ngồi ở các
cương vị lãnh đạo cao nhất của cái đảng tội lỗi này.

Chính Trần Độ, người đồng chí, đồng hương Thái Bình
và “đồng…ngu” của tôi, trên cương vị trưởng ban Văn Hóa Tư Tưởng,
lần cuối vào Sài Gòn gặp anh em văn nghệ tại 81 Trần Quốc Thảo đã
buồn rầu báo cho tôi biết tổng bí thư Nguyễn Văn Linh “bỏ của chạy
lấy người” rồi! Nghị quyết về văn hóa văn nghệ do anh thảo ra chắc
không thể được thông qua, còn anh thì chắc chắn… lãnh đủ về cái
trò muốn “cởi trói cho văn nghệ”!

Chao ôi! Thế là mọi âm mưu dở trò “xiếc hổ” của tôi
một lần nữa lại bị chặn đứng. Tuy nhiên, được Tuất Việt góp ý, tôi
sẽ khoanh vùng vào thứ công việc không ai có thể bắt lỗi bằng cách
lượm lặt mọi cái tiêu cực trong sinh hoạt văn hóa văn nghệ của
“địch” do chính báo chí “địch” đăng tải, kèm theo vài câu bình luận
ngắn gọn.

Thế là tôi nghiễm nhiên được thả cửa “mang gương Tây
cho Ta soi”! Kệ cho anh nào có tật giật mình! Tôi tránh hẳn những gì
dính dáng tới nền văn hoá hiện hành trong nước với chủ tâm không
động đến bất cứ cái gì, dù hay, dù dở đang diễn ra xung quanh. Tôi
vùi đầu vào đống tài liệu nước ngoài mới nhất để đưa lên báo đều đặn
hàng tuần…mọi chuyện mất dạy, vô văn hóa, ăn cắp, ma túy, giết
người, tình, tù, tự tử…cứ y như những chuyện ấy chỉ xảy ra ở các
nước “tư bản giãy chết” thôi! Còn ở ta, “dưới sự lãnh đạo sáng suốt
của Đảng”, có hay không thì…tôi không biết! Bài nào cũng có ảnh
photocopy hoặc cắt hẳn từ các tờ Paris Match, News Week, Le
Figaro… mà tôi lưu giữ để làm bằng khi cần thiết.

Dưới những bút danh Kính Viễn Vọng, Hải Anh T.H.
L.A… , tôi đã có trên 500 bài báo thông tin “chuyện lạ” của đời
sống văn nghệ, của những siêu sao, những nghệ sĩ triệu triệu phú
mà… thực sự, theo tôi, chẳng có gì để nhiều tờ báo trong nước phải
tung hô vạn tuế, phải tâng bốc tận mây xanh! Sự thật về cái chết của
Jim Morrison, Kurt Cobain, Freddy Mercury…về các giải thưởng, từ
Nobel đến Goncourt, từ Oscar đến Cannes với mọi mặt trái của nó đã
được báo chí nước ngoài vạch trần, tôi đều cố gắng cập nhật mong
cảnh tỉnh các nhà văn nghệ trong nước đang rơi vào vết xe đổ của
nước ngoài mà không biết. Tôi sao chụp tất cả lời lẽ quá hay, quá
đúng của những nhân vật mà cả thể giới phải kính nể như A.Malraux,
Jack Lang, Jean d’Omerson, Jacques Juilliard… trên các báo để làm
bằng, vì đã có người cho là tôi nhân danh họ mà buông ra những câu
“lên mặt dạy đời.”

Tôi đóng vai anh cảnh sát giao thông đứng trước một
giao lộ cất lên những tiếng còi khi dài, khi ngắn, nhưng không can
thiệp vào bất cứ phương tiện giao thông nào dù đi sai đi đúng
cũng… thây kệ!

Càng đi sai đường, chúng mày càng… chóng chết!

Cứ như thế, dựa vào báo chí nước ngoài, tôi chế biến
thành các bài của riêng mình để vạch trần những gì mà các ông “báo
bộ” (bố bạo) đang phóng lên tận trời là bên Tây đang lên án rần rần
đấy! Đừng lòe bịp nhân dân bị bưng bít thông tin mà muốn viết gì thì
viết! Những thông tin “ngược chiều” của tôi được nhiều người có
ngoại ngữ bắt chước. Và từ những năm 1990, thư viện văn hóa Pháp,
nơi duy nhất có tương đối đầy đủ báo chí nước ngoài được cập nhật
hàng tuần, trở thành nơi…kiếm sống cho khá nhiều người đến lấy
thông tin về mọi mặt rồi photocopy dịch hoặc phỏng dịch đăng báo
kiếm tiền! Họ làm ăn khấm khá dễ dàng hơn tôi vì chỉ lấy toàn bộ một
bài báo nào đó về chính trị, về xã hội, về khoa học, kỹ thuật và
dịch nó nguyên si là xong. Còn tôi, phải đọc cả chục tờ mới có được
cái mà tôi được giao nhiệm vụ viết. Cho nên, nhiều nhà “dịch báo”
chẳng cần…nói láo cũng…ăn tiền, cũng có xe Dream, xe Cúp…còn
tôi, trên con đường làm báo bất đất dĩ đó suốt 3 năm chỉ khỏi lo đời
sống vật chất chứ không thể “giầu”, vì tôi chỉ lấy làm báo là cái cớ
để cập nhật mọi thông tin mà nhà nước không muốn cho biết.

Cũng chính từ những năm làm báo này, mọi tin tức về
sự sụp đổ của toàn bộ hệ thống xã hội chủ nghĩa Đông Âu, về sự thức
tỉnh của giới trí thức, của một số nhân vật lãnh đạo các đảng cộng
sản, và đặc biệt, niềm tin về ngày tàn của chủ nghĩa cộng sản trong
tôi được củng cố hơn bao giờ hết. Có thể nói tôi thèm thông tin từ
thế giới bên ngoài còn hơn người nghiền xì ke ma túy! Lĩnh được tiền
nhuận bút là lập tức tôi đổi thành nguồn thông tin mua ở các tờ Le
Figaro, Paris Match, Times, VSD, Le Nouvel Obs … càng ngày càng có
nhiều trên thị trường. Tôi dùng các khoản nhuận bút, tiền thưởng
(một lần tôi được giải nhất về báo chí của Hội Nhạc Sĩ) vừa đủ nuôi
tôi, nuôi con. Vợ thì tự túc. Còn lại là dùng “mỡ nó rán nó” nghĩa
là dùng tiền viết báo để mua báo!

Té ra làm báo sướng hơn làm nhạc gấp nhiều lần, nhất
là làm báo trong cơ chế thị trường. Chẳng biết “định hướng xã hội
chủ nghĩa” ở chỗ nào chứ rõ ràng lớp trẻ ngày nay rất bố… bạo!
Trong những cuộc giao ban hàng tuần mà tôi được dự, từ thư ký toà
soạn đến các phóng viên mới tốt nghiệp đại học báo chí đều tìm mọi
cơ hội mỉa mai, nói kháy, nhạo báng chẳng từ một ai, từ chính sách
xây “nhà tình thương” đến chuyến đi của tổng bí thư sang Tầu! Có chú
tuyên bố hẳn: “Chẳng bài báo nào đăng được lại là sự thật 50%!”
Thậm chí có chú đi lấy tài liệu về bô bô tuyên bố: “Chẳng dại
gì mà viết lên sự thật mà tôi đã có trong tay!”
Quốc Khải

([1]),
một tay viết khá, có tài, bạo mồm bạo miệng nhất đã nói thẳng:
“Chỉ khi nào Đảng không dính vào sự thật nữa thì sự thật mới được là
sự thật”
. Đúng vậy, sự thật có “xếp thay mặt Đảng” đòi mỗi bài
phải Fax ra Hà Nội, khi xếp đi họp nhà Trắng, nhà Đỏ, để xếp duyệt
trước khi lên khuôn thì…sự thật vẫn là sự thật theo ý xếp!

Nói trắng ra, những người làm báo trẻ đã chẳng còn
tin mình sẽ được viết sự thật khi cầm cái thẻ nhà báo đi vào mọi
lĩnh vực của đời sống để tìm tư liệu cho bài viết. Họ biết rõ những
vụ động trời như vụ bán chạy hàng ngàn ngôi nhà trước lệnh đình chỉ
bán nhà của trung ương, cho nó thành “việc đã rồi”. Họ quá rõ những
vụ cướp trắng trợn qua tịch thu, biến nhà máy công thành nhà máy tư,
những đại gia Tăng Minh Phụng, Liên Khui Thìn, Robert Hải vv… vì sao
một thời là bất khả xâm phạm cho đến khi những nhọt bọc Minh Phụng
Epco, Tamexco bị vỡ. Họ từng ăn nhậu với các người sau này bị những
ô dù chối bỏ phải đứng trước vành móng ngựa lĩnh án tử hình hoặc
chung thân. Họ từng nhận các phong bì đựng những số tiền khổng lồ
của các cơ sở kinh doanh tráo trở, nhờ “xin quảng cáo” và viết bài
quảng cáo cho những “điển hình” mà họ biết trước rồi đây “không bị
ra toà thì cũng được cho chìm xuồng”. Không ít người trong bọn họ
trở thành giàu có rất nhanh nhờ mánh khoé làm xăng-ta với những công
ty, nhà máy vi phạm luật chơi với “các anh”, “các chú” — chứ luật
nhà nước thì họ phạm dài dài.

Với tôi, các nhà báo trẻ tỏ ra kính trọng một cách
phải đạo, nhưng cũng không ít người khuyên tôi nên… “nghỉ cho
khoẻ, thời của “xếp” hết rồi”!

Té ra lớp trẻ tinh ranh hơn tôi nhiều. Nó đánh hơi
trước ai sẽ được, sẽ thua trong cuộc chạy đua vào chức tổng biên
tập, giám đốc sở, thứ trưởng, bộ trưởng, thậm chí biết trước nhân sự
Bộ Chính Trị, Trung Ương lần Đại Hội Đảng sắp tới sẽ ra sao?

Và quả là như thế. Sau Đại Hội Đảng
lần thứ 8, một lực lượng “nửa trẻ nửa già”, với những cái tên mà tôi
chẳng nghe thấy bao giờ, kể cả ông tổng biên tập mới nhanh chóng
được đặt vào những cái ghế quan trọng… Một buổi đang vùi đầu vào
đống báo Pháp vừa tới, tôi bỗng nhận được điện của cô phụ trách hành
chính:
“Từ tuần sau bác không phải đến họp
nữa, từ nay bác cứ gởi bài về toà soạn như mọi cộng tác viên bình
thường! Phụ cấp hàng tháng của bác từ nay sẽ không có nữa!”

Tôi
đã chờ đợi tin này nhưng không ngờ nó đến một cách đơn giản và nhanh
chóng đến thế! Tôi lại nổi tự ái với tôi 5 phút: “Ai bảo không biết
thân, biết phận cứ cố đấm ăn xôi, cố kiếm miếng ăn trong sạch làm
gì.” Và tôi lại kết luận: “Thằng hèn thì suốt đời bị phận… Hèn”!

Chỉ còn cách vứt bỏ vĩnh viễn mọi lệ
thuộc vào miếng cơm manh áo để cố mà tồn tại thì may ra…

Với quyết tâm rời bỏ vĩnh viễn cái
đất Sài Gòn, tôi thu xếp hành trang nhẹ tênh về ngôi nhà nhỏ của vợ
tôi ở xóm Thanh Hải, Vĩnh Hải, Nha Trang với hy vọng được sống những
ngày cuối đời, hạnh phúc trong quên lãng, kể cả quên lãng bản thân,
quên lãng tất cả những gì tưởng là đã đóng góp cho đất nước, cho dân
tộc như nhiều vị về hưu thường tuyên bố vớt vát. Tôi sẽ dùng thời
gian còn lại để hoàn thành nốt “lời thú tội” vì sao tôi đã thất bại,
thất bại thảm hại, trái tim đầy thương tích.

Vừa về tới cái xóm nghèo mà tôi tưởng
sẽ được sống cuộc đời “ẩn sĩ” với hai bữa cơm rau để viết hồi ký,
tôi lại rơi vào một hoàn cảnh đau khổ, đắng cay tới mức chẳng một
phút nào còn hứng khởi, thậm chí còn hơi sức để ngồi vào bàn viết.
Tôi, một cán bộ già về hưu, không đồng vốn lận lưng và vợ tôi, một
cô giáo cấp 2 phải bỏ dạy vì quá đói –– đúng nghĩa đen của chữ đói
–– và sốt rét đến mức có thai là…sảy, đang sống nhờ cái kiốt sách
báo bằng gỗ ở ven quốc lộ tưởng đủ nuôi hai mẹ con thì cơn lốc thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã… cuốn sạch!

Để mở rộng con đường, người ta đập bỏ
không thương tiếc nồi cơm của mẹ con cô giáo, không một xu đền bù,
vì lề đường là của Nhà Nước, đất đai là của toàn dân! Chỉ riêng cái
chuyện mở đường đã thay đổi bao số phận. Một bác nông dân bỗng có
nhà lầu, xe Dream. Một anh giám đốc trẻ bỗng có hàng trăm cây vàng
do nắm được con đường sẽ mở nên mua đất thổ canh từ khi một mét
vuông chỉ vài ngàn đồng (lương tối thiểu lúc này là 245 ngàn) lên
tới bạc triệu. Giàu đến vô kể chính là những kẻ thay mặt nhà nước
cuỗm tiền đền bù cho dân có đất “bị giải toả”. Bao nhiêu triệu, mấy
trăm cây, đều có sự thoả thuận chia chác giữa người hả hê cầm tiền
đi đền bù với người được đền bù nước mắt chảy dòng…

Khổ cực vì suốt ngày đứng bán hàng
bên lề đường phơi nắng, chạy mưa và luôn bị phạt, bị đuổi, vì con
đường nhỏ bé trước kia nay mở thành đường lớn hai chiều, nhà mặt
tiền mọc lên san sát, vợ tôi đành cầm cố với lãi suất cắt cổ để
“vươn ra mặt tiền”. Tưởng phen này sẽ phất lên đủ nuôi chồng con, ai
ngờ…quy luật cạnh tranh đã giết chết hết những người chân chỉ hạt
bột, còn các cửa hàng lớn, vốn liếng nhiều hơn, trang hoàng đẹp hơn
và các cửa hàng “treo đầu dê bán thịt chó” (hàng bán chỉ là cái cớ
để kinh doanh trái phép, trốn thuế) thì… tồn tại phây phây. Những
người làm ăn đứng đắn dần dần phá sản, nhất là những người đi vay
nặng lãi để làm vốn kinh doanh thì thu không đủ trả lãi, đóng thuế,
và đủ các thứ “lệ phí” mà nhà nước lớn nhà nước bé có thể nghĩ ra.

Những “cú đánh” tới tấp không tưởng
tượng nổi ào ào đến, vùi dập mọi ảo tưởng còn sót lại trong tôi. Sau
một năm trở thành “ông ở”, nấu bếp, giặt giũ, đưa đón con đi học,
giúp vợ bán hàng, trái tim tôi có lúc gần như hết cảm xúc. Lòng tự
hào của ông “văn nghệ sĩ cách mạng” mất sạch trước thực tế phũ phàng
của nền “kinh tế…thị trường” hỗn loạn, mà báo chí phương tây gọi
“capitalisme sauvage – tư bản hoang dã!”

Rốt cuộc, chúng tôi phải đầu hàng,
sang lại cửa hàng sau khi bán căn nhà nhỏ trong làng đã thành
phường, trực thuộc thành phố, để thanh toán mọi khoản nợ nần và lãi
tích tụ trên hai năm. Bốn bàn tay trắng, chúng tôi thuê một căn nhà
dưới chân núi Sạn –– ở thành phố biển nhưng lại nằm tít trên núi!

Để kiếm hai bữa ăn, vợ tôi chuyển
sang nghề bán bánh mì ba tê đầu đường! Nhưng “đứng đường” được cũng
phải hợp pháp hoá xe bánh mì bằng cái kệ bán mấy tờ báo làm… vì!
Và thực là nực cười: chính cái nghề này đã tạm ổn định cuộc sống của
ba nhân mạng. Nó phản ánh rõ nét sự phân hoá xã hội giàu nghèo, sự
bất công trong thu nhập của một xã hội chẳng ra cái giống gì. Người
bán bánh mì, bánh canh, bún bò… thu nhập gấp 2, 3 lần bán sách báo
và gấp 6 lần lương một bác sĩ, kỹ sư mới ra trường! Vất vả, hèn kém
một tí nhưng nếu mỗi tháng hai vợ chồng thu nhập được hai triệu đồng
(150 đô la tính theo thời giá) thì mọi sự lặt vặt của cuộc đời hiện
tại khỏi phải lo, trừ trường hợp ốm đau, tai nạn, chết chóc!

Và phải… quên đi quá khứ! Càng
không được nghĩ tới tương lai, vì chỉ cần người ta cấm bán bánh mì
đầu đường hoặc…không nhập bột mì nữa thì lập tức tai hoạ khôn
lường sẽ đổ xuống đầu hàng loạt gia đình sống nay, chết mai như gia
đình tôi. Thôi, cứ để cho nước cuốn theo dòng, mặc cho số phận đẩy
đưa tới đâu hay đó.

Và… không phải chờ lâu…

Trong khi dọn dẹp nhà cửa, tôi bị ngã
gãy cổ xương đùi! Tai nạn xảy ra ở tuổi 71 bắt tôi nằm tại chỗ 12
tháng, trở thành gánh nặng cho vợ con. Bệnh viện bó bột xong là trả
ngay bệnh nhân về nhà chờ bình phục, vì bảo hiểm y tế không chịu
trách nhiệm các tai nạn do bảo hiểm nhân thọ lo, nhưng với mấy ông
già sắp xuống lỗ thì cơ quan bảo hiểm của đảng chẳng dại mà ký hợp
đồng!

Thế là một khoản tiền lớn nữa lại
phải chi cho cái tai nạn trời ơi. Lấy đâu ra?

Lúc này, tôi gần như tuyệt vọng và
chỉ nghĩ đến cái chết thì một nguồn an ủi lớn đã vực tôi dậy. Bạn bè
từ thuở xa xưa, đồng ngũ, đồng khoá, thậm chí cả những người tôi rất
ít giao dịch, nghe tin tôi bị “đóng đinh” tại giường trong một hoàn
cảnh vô cùng gay go đã tới tấp gởi thư, gởi điện, gởi tiền đến tận
nhà hỏi thăm động viên, tỏ lòng yêu mến, ngưỡng mộ và khuyên tôi:
Phải sống! Sống để thấy cuộc đời vẫn còn nhiều lý do để sống. Cái
xấu không thể cứ mãi mãi ngự trị được. Tô Hải đâu có bị hoàn toàn
quên lãng? Chứng cứ là chính giữa lúc bị tai nạn này, ông chủ tịch
Nước đã ký tặng huân chương lao động hạng nhất đấy thôi…

Chưa bao giờ tôi đổ nhiều nước mắt
như thế.

Chỉ cần một câu nói qua điện thoại,
một lá thư, một măng đa gửi tiền, một gói quà, là tôi đã không nén
nổi xúc động mà khóc nức nở. Có những tiếng khóc vì tủi thân trách
phận tại sao đến nỗi phải sống đắng cay, nghiệt ngã đến thế. Nhưng
cũng có những tiếng khóc hối hận vì mình đã không đánh giá hết lòng
tốt của con người, đã nhìn đời, nhìn người quá đen bạc. Đặc biệt là
khi có ai đó nhắc đến cái “mất” và cái “được” của tôi, mà theo họ
cái “được” có nhiều người nằm mơ cũng chẳng thấy.

Đó là những cái được hiển nhiên: Được
bạn bè đồng ngũ, đồng đội, đồng nghiệp yêu thương cho đến cuối đời.
Được nhiều kẻ ghét mình như “nước đổ đi” nhưng vẫn cứ nuốt bồ hòn
làm ngọt đề cao mình… những khi có lợi cho họ! Được gia đình vợ
đẹp, con khôn, không bị các bi kịch “cấu xé nội bộ” làm khổ. Được
nhiều nhất là được xa lánh mọi cạnh tranh, tị hiềm, được vứt bỏ mọi
bó buộc về sinh hoạt, về tổ chức, về trách nhiệm… để được ngồi
viết cả mấy trăm trang hồi ký, sám hối những gì mình đã phải sống
hèn suốt 70 năm “đầu thai nhầm thế kỷ”…

Và, thương vợ, thương con, biết ơn
bạn bè, tôi chống đôi nạng gỗ lết tới bàn, tiếp tục viết… Nhưng
khi đọc lại những gì đã viết dở dang cách đây hai năm, tôi bỗng thấy
tôi vẫn còn hèn trong khi viết!

Hèn vì chưa dám nói hết những gì đã
và đang ấp ủ trong lòng. Tôi còn e ngại khi phải nói lên những sự
việc, những tên tuổi, những sai lầm chết người mà thủ phạm chính là
những kẻ một thời tôi đã tôn thờ, nhắm mắt đi theo. Vì hèn, tôi vẫn
còn sợ!

Sợ, vì lo cho bản thân, nếu bản thảo
chẳng may lọt vào tay một kẻ cơ hội nào đó. Sợ vì không muốn vợ con
“gặp nạn” vì chồng, sợ vì ngợp trước những đòn đánh phủ đầu đối với
các tên tuổi như Hà Sĩ Phu, Dương Thu Hương, và hàng loạt các tên
tuổi dám viết, dám nói những gì họ cũng nghĩ như tôi, mà tôi thì
không dám. Sợ vì sẽ “chết” dưới bàn tay kẻ cầm quyền trong một xã
hội vô luật pháp. Chúng không hề ngần ngại dùng mọi thủ đoạn kết tôi
vào tội “phản động” –– tất nhiên, phản động đối với chúng.

Tóm lại, “Hồi Ký Của Một Thằng Hèn”
thiếu hẳn cái đáng đọc, nếu nó không được tổng kết từ một người
đã… hết hèn! Nói cách khác: nếu nó không luận tội, kết tội đích
danh thủ phạm, không chỉ ra được nguyên nhân của mọi nguyên nhân đã
biến một con người như mọi người thành một Thằng Hèn cho đến cuối
đời… thì tập hồi ký này chỉ đáng vứt vào xọt rác!

Vì thế mới có thêm chương “vĩ thanh”
với tiêu đề: TÔI ĐÃ HẾT HÈN.


([1])
Tên đã thay
đổi.

Chương kế tiếp:
Tôi đã hết hèn

Mục
lục

Văn nghệ thời Đổi Mới | Tô Hải


HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN

Tô Hải

VĂN NGHỆ THỜI ĐỔI
MỚI

Cùng với sự mở cửa toang toàng cho nền kinh tế thị
trường mạnh ai nấy làm… giầu dưới sự chỉ đạo của bọn cầm quyền cơ
hội mà mục tiêu cao nhất là kiếm chác, nền văn nghệ do Đảng lãnh đạo
cũng được ăn một lô bánh vẽ. Lần đầu tiên, tổng bí thư Nguyễn Văn
Linh công nhận:
“Lâu nay văn nghệ sĩ các
anh quả có bị…trói! Nghị quyết trung ương 5 đã “cởi trói” cho các
anh. Hãy mạnh dạn lên mà viết! Đừng uốn cong ngòi bút!”

Nghe sướng cái lỗ tai chưa?

Thế là giữa cái lộn tùng phèo bát nháo, lẫn lộn dở,
hay, tha hồ tự do kiếm tiền, làm giầu bằng văn nghệ, nếu có điều
kiện…Chẳng ai phê bình được ai, nếu không, sẽ bị chụp cái mũ “bảo
thủ”, “chống Đổi Mới”, “tư duy lạc hậu”! Riêng âm nhạc thì mất tăm
những cái tên lừng lẫy một thời với âm nhạc “la-ghe”, âm nhạc ngợi
ca, âm nhạc hô khẩu hiệu… “Cưa sừng làm nghé” để anh anh, em
em…, tình ta mặn nồng, hôn hôn, hít hít

thì…cũng có ông làm thử nhưng gượng gạo làm sao, thứ âm nhạc “bốc
mùi” giả tạo ấy không ai chịu nổi. Chẳng có gì khó hiểu trong chuyện
này. Các ông đã quá “méo mó cộng sản” trong tư duy, quá khô khan
trong tâm hồn và nói cho ngay, không có khả năng nhị hoá nhân cách
trong tình yêu nên phải dùng cái thế phẩm “bốc mùi” ấy như một thứ
bột ngọt để rắc vào tình cảm của “anh lính biên cương về thăm
nhà”, “cô công nhân vừa tan ca”,
hay anh chị thanh niên xung
phong đang “con kênh ta đào có anh và có em” mà thôi! Vì thế
mà ca khúc của mấy anh Xuân Hồng, Phạm Tuyên…“chuyển hướng sáng
tác” chẳng được ai tiếp nhận!

Thay vào đó là một lớp được gọi là “nhạc sĩ trẻ” ăn
khách với những câu chắp vá từ đủ thứ bài Mỹ, Hoa, Hàn, Thái… tha
hồ làm mưa làm gió trên thị trường, để rồi cũng bị quần chúng vứt
vào sọt rác! Riêng nhà xuất bản Đồng Nai đều đều mỗi tháng cho ra
một tập nhạc có tên 99 Bài Tình Ca Trong Tháng
của những tác giả chưa ai nghe tên bao giờ!

Và điều phải xảy ra đã xảy ra: nhạc tiền chiến, nhạc
hải ngoại một thời bị coi như… thuốc độc, nhạc của những tác giả
“có vấn đề” Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Lê Hựu Hà, Dương Thiệu Tước, Nguyễn
Ánh 9…, của các tác giả đã bỏ nước ra đi Cung Tiến, Trần Quảng Nam,
Ngô Thụy Miên…trở lại với người nghe “tự nhiên như không khí.” Tuy
nhiên, những bài ca “não tình”, những dàn nhạc mang toàn tên tiếng
Anh, biểu diễn thì bắt chước các king rock, pop từ cách gào thét,
nhảy nhót, đến phục sức tóc, tai tởm lợm vẫn tha hồ tung hoành!

Các live show, các gala unplugged được các nhà văn
hóa phường, văn hóa quận cấp phép, thi nhau nở rộ và chiếm được cảm
tình của lớp tuổi teen đang quá ngán các thứ căng cứng mà “cách
mạng” nhồi nhét vào đầu họ! Không thiếu những bài hát đã bị khai tử
từ thập niên 1950-1960 bởi chính công chúng Sài Gòn trước 1975,
những ca sĩ “sến” này, ca sĩ “quá đát” kia cũng nhân dịp “cởi trói”
mà “tái xuất giang hồ” thoải mái! Miễn không hát, không viết “đả đảo
cộng sản” là đều “cho qua” hết!

Việc loạn ca sĩ, nhạc sĩ lại được khuyến khích bởi
những nhà xuất bản, những trung tâm băng đĩa của Nhà Nước, vì hái ra
tiền nên như những làn sóng dìm chết tất cả những ai ngăn cản nó.
Báo Tuổi Trẻ của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Sài Gòn công khai đòi đổi
mới nội dung giảng dạy âm nhạc ở nhạc viện với lý do: Sài Gòn là
“thủ đô của nhạc nhẹ Đông Nam Á”
, không cần các thứ nhạc bác
học! Nói cho ngay, khi nghệ thuật tách rời khỏi chính trị lại được
“định hướng” bởi…đồng tiền và sự ngu dốt thì… cái thượng tầng
kiến trúc của xã hội đã đi vào con đường cực kỳ thoái hoá. Đã thế,
sách lược “mị dân” bẩn thỉu bằng cách khuyến khích những sản phẩm
văn hoá rẻ tiền lại được che đậy bằng cái khẩu hiệu “quần chúng yêu
cầu” luôn làm cho người nhẹ dạ tưởng các ông lãnh đạo cũng “tâm lý”,
cũng “thoáng”, cũng sát với quần chúng lắm! Mấy chú trực tiếp ở hội,
hè, sở, quận, phường, xã… tát nước theo mưa “bung ra” đủ thứ rác
rưởi báo hiệu một cuộc xuống dốc thê thảm về đạo đức xã hội. Nhạc
hội, vũ trường, karaokê ôm, “tụ điểm” đủ kiểu mọc ra như nấm… Chỉ
cần chữ ký của “anh văn hoá” quận, văn hoá phường là… “xong ngay.”
Chả thế mà khối anh chỉ làm “văn nghệ kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa” mấy năm đã xây được nhà lầu, sắm được xe hơi, còn
hát gì, diễn gì bất cần biết! Cuộc chiến “ai thắng ai” chỉ tính giữa
pop (âm nhạc phổ thông, âm nhạc bình dân) và âm nhạc đòi hỏi phải
học hành, hiểu biết coi như… kết thúc đối với tôi!

Tôi xin giơ tay hàng và cầu trời sớm có phép lạ nào
đưa con cháu tôi vào một thế giới văn chương nghệ thuật đích thực để
trí não chúng được nâng cao, để tâm hồn chúng được rộng mở tới những
tầm mức văn hóa mà loài người đã đạt tới…

Người ta công khai mỉa mai các nghệ sĩ nhân dân, nghệ
sĩ ưu tú nay phải đi…bán cháo lòng, đi rửa bát ở khách sạn là đáng
kiếp cái thân “vô tài nhưng có tướng”, xưa được Đảng “bơm” lên cao
thì nay có ngã đau cũng là lẽ đương nhiên! Nói về đa số cũng chẳng
oan, nhưng vơ cả đống thì không đúng. Bản thân tôi, cũng được vài tờ
báo của Đoàn Thanh Niên Cộng Sản thành phố Sài Gòn xếp vào “lũ nhạc
sĩ già nua, bảo thủ, lạc hậu”, thậm chí còn bị chất vấn về những bài
viết dựa trên các tài liệu rất cập nhật vừa nhận được từ Pháp,
Mỹ…gửi về (thời ấy chưa có internet) lên án sự quậy phá của các
nhóm Pop, Rock, Rap Épigone, Copieur, Disciple, Iconoclaste… của
chính các ông trùm loại nhạc này viết thành sách hoặc phát biểu trên
báo chí phương Tây, là “đáng nghi ngờ”, là tôi “phịa”! … Tôi chẳng
buồn cãi, chẳng buồn đưa đến tòa soạn hai tờ Tuổi Trẻ, Thanh Niên
những tài liệu, sách báo mà tôi còn giữ trong tay để minh chứng rằng
mình “nói có sách mách có chứng”. Tôi đã quá chán các giọng lưỡi
luôn đổi hướng, xoay chiều đến trắng trợn, không biết xấu hổ là gì.
Lại nhớ đến câu nói của bộ trưởng văn hóa Pháp Jack Lang: “Trong
lãnh vực văn hóa, không thể nhốt chung con cáo Mỹ và con gà trống
Gaulois một chuồng được”
mà buồn cho cái nền văn hóa “kinh
thế
” thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”… Trong bối cảnh
kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội như thế, làm “lính xung kích”
không xong, làm “kỹ sư tâm hồn” thì…hết thời, nhất là làm một “văn
nghệ sĩ” thì…hết lửa trong tim, hết niềm tin trong tâm hồn, đảo
lộn hoàn toàn trong nhận thức và ê chề, khốn khổ trong cuộc sống đời
thường nên tôi thấy…rút lui là thượng sách!

Cuộc chiến giữa nền “văn nghệ vô sản hiện thực xã hội
chủ nghĩa” với nền văn nghệ đích thực vì cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ
đã không xảy ra! Đây là một cuộc chiến khác, cuộc chiến giữa cái Đẹp
đích thực và cái Đẹp dung tục, cái Đẹp bị tầm thường hoá. Người ta
đã ném chúng tôi vào một bãi “chiến trường mới” đầy xác chết thối
rữa, nhầy nhụa, tù mù, đầy những cặn bã, những bãi nôn mửa của một
thời “hippy văn hóa” sau đại chiến thứ 2 ở châu Âu!

Hết cái việc chống chọi với thứ “văn nghệ vì Đảng vì
Dân” rồi do nó đã qua đời không kèn không trống, chúng tôi lại phải
chống chọi với cái gì đây? Xây dựng, sáng tạo cái gì đây? Nhảy vào
cái chiến trường bát nháo này để chiến đấu khác nào xông vào trận
địa không có người mà toàn ma quỷ? Cùng ma quỷ giành giật một chỗ
đứng, một miếng xương, một mẩu bánh chăng? Để rồi cũng biến thành ma
quỷ luôn chăng?

Thôi thì… 36 chước chỉ còn chước chuồn là hơn.

Và lại… wait and see!

Chờ ngày đất nước “đâu vào đó”, hết bóng những tên
phù thuỷ cộng sản và bè lũ âm binh của chúng, trật tự văn hoá, đạo
đức xã hội được người có đức có tài ra tái thiết, nhất là xây dựng
lại tâm hồn con người, từ chỗ bị u mê lú lẫn bởi cái nền văn nghệ
tuyên truyền cho Đảng đến chỗ xuống cấp, sa đoạ bởi thứ văn nghệ bắt
chước, văn nghệ thuổng, văn nghệ khuyến mại kích thích con người ăn
chơi, hưởng thụ, làm tình nhăng nhít…“Cởi trói” nửa vời đã biến
“văn nghệ bị trói” trở thành “văn nghệ điên khùng”!

Đó là tóm lược tình hình văn nghệ nói chung và âm
nhạc nói riêng những năm cuối hai thập kỷ 1980 và 1990, thời gian mà
Giá Trị Đích Thực trong mọi mặt đều bị lộn tùng phèo!  Tôi biết
làm gì đây?

Như một kẻ thảm bại, dù còn có nhiều người cầu mong
tôi ở lại để thỉnh thoảng làm “speaker
([1])
không tiền khoáng hậu” cho họ, tôi đưa đơn xin về vườn! Đơn được
lãnh đạo Hội Văn Nghệ lúc ấy chấp nhận ngay lập tức…

Cuộc “phiêu lưu văn nghệ” kéo dài này, xét cho cùng
chính tại tôi đã chọn con đường sai lầm. Tôi đã chọn cái “nghiệp”
đáng lẽ lấy cái “tâm” làm gốc hơn ai hết thì lại phải lấy cái đầu,
lấy cái…dạ dày và cái “chỗ đứng dưới mặt trời” làm mục đích và
phương tiện để tồn tại.

Mọi cựa quậy để “sống”, để làm “văn nghệ bằng tim”
đều là công cốc, chuốc thêm sầu muộn cho mình và gây khó chịu cho
người đương thời.

Tôi quyết tâm “giã từ vũ khí”!

Tránh xa mọi cuộc bon chen trên đấu trường văn nghệ
với niềm tin vững chắc tôi sẽ có những ngày êm ả trong tâm hồn khi
trở thành một ông già bình thường, không ham hố bất cứ thứ gì, nằm
chờ cái chết sẽ đưa mình vào quên lãng.

Y như con sói của Vigny — “gémir, crier, pleurer est
également lâche” — mà tôi đã bị ám ảnh và luôn “vận” vào số phận
mình ngay từ thuở thiếu thời.

Thế nhưng…



([1])

Người phát ngôn.
–– tiếng Anh.


Mục
lục

Bắt đầu và kết thúc một cuộc chiến… thảm bại | Tô Hải


HỒI KÝ CỦA MỘT THẰNG HÈN

Tô Hải

BẮT ĐẦU VÀ KẾT THÚC

MỘT CUỘC CHIẾN… THẢM BẠI


Cái ngày mong chờ đến một cách khá bất ngờ.


Điều hiển nhiên mà ai cũng biết là quân đội miền Nam sau thất bại
Ban Mê Thuột, đã chẳng còn một tí tinh thần chiến đấu nào. Với số
quân và vũ khí do Mỹ để lại, nếu trong tay bất kỳ một tướng nào có
tí lý tưởng, có tí thể diện của con nhà võ, miền Bắc đâu có thể “chẻ
tre”, “thần tốc” đến thế! Nói cho ngay: Chính “phía bên kia” đã…
gác súng, không chiến đấu nữa. Y như một trận bóng mà một bên đã tự
nguyện cởi áo rời sân cỏ! Chẳng thế mà Lê Linh, một vị tướng tư lệnh
Quân Đoàn 4 đã nói rất thật với đám văn nghệ chúng tôi: “Chúng tớ
chỉ có chạy và chạy thẳng về Sài Gòn! Quân, tướng, đơn vị xáo trộn,
thất lạc nhau lung tung! Y như một tấm giẻ rách! Làm quái gì có ai
chỉ huy ai mà cứ cãi nhau hoài.”
Câu nói muốn nhắc đến hai cuốn
sách chửi nhau về ai thật sự có công của hai vị tướng miền Nam và
miền Bắc mà thắng lợi thuộc về ông tướng… miền Bắc.

Sự thật thì chính phủ Dương Văn Minh đã ngồi chờ…
bộ đội tại dinh Thống Nhất từ sáng 30-4-1975! Khi đại quân kéo vào,
mạnh ai nấy đi, chẳng ai chờ lệnh ai, chẳng ai ra lệnh cho ai, cứ
nhờ dân chỉ đường tiến thẳng về “sào huyệt cuối cùng” của chính
quyền “ngụy”. Buồn cười hơn nữa là người ta còn dựng lại cảnh xe
tăng hùng hổ đâm đổ cánh cổng trước đó đã mở toang của cơ quan đầu
não “địch” mặc dù địch đã lên đài công nhận thua và ra lệnh không
được nổ súng nữa!

Những người đã vào ngồi sẵn chờ quân giải phóng cùng
chính phủ Dương Văn Minh như Trần Kim Thành, Thẩm Võ Hoàng, Hải
Ninh, Hoàng Tích Chỉ, Khánh Dư và cả Bùi Tín, Nguyễn Trần Thiết, sau
này còn kể một cách dí dỏm về hành động húc xập cổng “dinh lũy cuối
cùng” của “quân ngụy” là “hùng hổ một cách đáng nực cười”! Vì sau
khi làm họ giật nẩy mình tưởng có chuyện tử thủ tử thiếc gì đây thì
mấy ông “dũng cảm vô tích sự” ấy phải tìm người đến chữa cổng ngay
lập tức để kịp hôm sau đón các vị lãnh đạo miền Bắc bay vào!

Còn nhiều chuyện nực cười chẳng thua thời quân Tưởng
kéo quân vào miền Bắc. Chuyện kỷ luật nghiêm minh đến ngây ngô tội
nghiệp của các chàng lính mới tò te, chuyện ngồi sa lông lính ngụy
sợ dính vi trùng Ôkinaoa, chuyện cấm không được vào nhà dân vì lo
dân… thủ tiêu hay mua chuộc, chuyện lính Việt Cộng dùng thang máy
chơi trò đi… máy bay. Toàn chuyện cười ra nước mắt!

Cũng chính từ những người may mắn được vào Sài Gòn
trước tôi
([1]),
tôi đã bị dội một gáo nước lạnh đến tê người: “Cả gia đình tôi
gồm 16 người đã lên máy bay di tản sang Mỹ”
. Mẹ tôi ngoài 70
tuổi, què chân, “bị” ông con rể Lâm Quang Thi, trung tướng “ngụy”,
rước đi đêm 29, dù mẹ tôi vẫn mong được ở lại gặp tôi sau hơn 30 năm
xa cách. Tất cả nhà cửa, tài sản đều vất lại. Hiện còn hai villa,
một ngôi nhà, hai căn hộ ở cư xá Bắc Hải và sân bay Tân Sơn Nhất
đang có quân đội đóng. Chắc khi họ rút thì đến cái cửa sổ cũng chẳng
còn vì hàng ngày họ chẳng biết nấu ăn bằng cái gì! Duy nhất có Tô
Hiền, em thứ hai của tôi không chịu ra đi vì tin là mình không dính
tới ngụy quân, ngụy quyền do có bệnh tim bẩm sinh, suốt đời chỉ dạy
học ở các trường tư thục!

Thế là chỗ dựa vững chắc để tự giải phóng mình đổ
sụp! Tuy nhiên, khát vọng trở về dù chỉ gặp duy nhất đứa em thứ hai
vẫn cháy bỏng trong tôi. Nhưng đi một cách vô tổ chức, bỏ cơ quan mà
đi thì tôi lại vẫn là… thằng hèn.

Tôi vẫn còn lo cho số phận của kẻ không biên chế,
không lương, nhất là sợ kỷ luật đối với một văn nghệ sĩ “vô tổ chức”
là thế nào vì đã có cả ngàn tấm gương tầy liếp. Tôi lại hèn bằng
cách tích cực cho ra một “bức tranh cổ động bằng âm nhạc” mới toanh,
được in ấn, thu thanh, phổ biến khá rộng rãi, tái bản đi, tái bản
lại trên báo chí “miền Nam giải phóng”, thậm chí được cả hàng ngàn
người hát tập thể tại sân vận động Thống Nhất, có đoàn quân nhạc tấu
cùng. Trong bài hát tập thể này, tôi nêu lên lịch sử cha ông bao lần
chống ngoại xâm thắng lợi, chống chia cắt đất nước thành công, nhưng
không một chữ đả động đến công ơn Đảng, Bác…Phần phối khí, để có
“phong cách Sài Gòn” do Thanh Tùng, trùm nhạc nhẹ lúc bấy giờ đảm
trách. Đó là bài hát tập thể Độc Lập Tự Do Toàn Thắng Từ Đây”!
([2])
Bài này cũng như trăm bài hát khác của tôi, một lần nữa không thể có
chỗ đứng bên cạnh Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng
([3])!

Nó hơn bài tôi ở chỗ nó nói đến Bác! Nó lại càng có
lợi thế hơn tôi vì Phạm Tuyên có trong tay công cụ phổ biến duy nhất
là đài Tiếng Nói Việt Nam. Hơn nữa, phần phối âm, phối khí cũng là
đề tài tranh luận: “Nên hay không nên dùng nhạc nhẹ?” Đã tranh luận
thì phải có vấn đề! Và, đã có vấn đề thì dù chưa kết luận cũng…xếp
lại cái đã! Thế là tác phẩm “lấy điểm” của tôi, mặc dầu ra cùng
ngày, cùng giờ, cùng thu thanh với Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui
Đại Thắng
cũng theo gót các tác phẩm cùng loại của tôi trước
kia, đi vào cõi… chết! Nhưng chính do bài này mà các tòa soạn, nhà
báo, bạn bè cũ, mới đi tìm tôi và biết được tôi vẫn ngồi chơi xơi
nước ở Hà Nội!

Một số anh em có tâm huyết, thậm chí cả một số từng
cho rằng “không nên để Tô Hải vào sớm với một gia đình “đại ngụy”
như thế” nay cũng đổi ý. “Cần gọi ngay Tô Hải vào”, vì sự có mặt của
tôi lúc này được kể là rất có lợi về n hiều điểm:

— 1) Tôi có thể tập hợp được một số văn nghệ sĩ “tại
chỗ” bằng khả năng, trình độ, tuổi đời và tuổi nghề. Nói trắng ra là
lực lượng tiếp quản văn nghệ nói chung và âm nhạc nói riêng đang nằm
trong tay mấy ông nhạc sĩ “Rờ”
([4]),
chẳng ai có trình độ tối thiểu để “đối đầu” với những Phạm Trọng Cầu
([5]),Trịnh
Công Sơn, Phạm Thế Mỹ, Nghiêm Phú Phi…. Lực lượng nhạc sĩ cách mạng,
ngoài cái “uy tín tự có” là kẻ chiến thắng, chưa ai qua được trình
độ sáng tác…ca khúc! Một số lớn còn chưa qua trường nhạc nào, thậm
chí “phát rét” lên khi thấy một “nhạc sư” du học ở Paris dù là
autodidacte
([6])
gõ phím piano vài bài trong “classiques favoris” tập I

([7])
!
Y hệt chúng tôi khi về Hà Nội năm 1954, thấy ông Nguyễn Văn Quỳ nói
về hòa thanh, tác khúc Lavignac, nghe nhạc Ravel

([8])
,
Debussy
([9])
cứ như tốt nghiệp thật ở nhạc viện Paris
vậy – thực ra ông chỉ học hàm thụ vài môn lý thuyết! Cái mặc cảm
“thua về nghề” có lẽ chỉ có trong giới nhạc “cách mạng”.Tôi cùng một
số được hưởng cái “đổi mới tư duy” của mấy ông lãnh đạo chính cống
miền Nam ngay từ cuộc huy động lực lượng tăng cường này.

— 2) Sau khi thu giữ (không hủy?) hàng núi băng nhạc,
đĩa hát “phản động, đồi trụy”… lấy gì cho dân miền Nam hát và nghe
đây? Việc lập tức tổ chức thu thanh, ghi âm các “bài hát cách mạng”
để chiếm lãnh thị trường âm nhạc đang cần sự có mặt của tôi vì tôi
là người chuyên làm việc này, từ biên tập, hòa thanh, phối khí đến
cả làm bìa, dịch nội dung gửi sang Tiệp, sang Nga, in thành đĩa 33,
45 vòng/phút mang cái nhãn “Dihavina” (cũng chính do tôi đặt ra năm
1962), từ cả 15 năm có lẻ ở miền Bắc.

— 3) Sự có mặt của tôi chứng tỏ Đảng không hề phân
biệt đối xử với người có gia đình… “đại ngụy”, có ông bố nằm cạnh
thống tướng Lê Văn Tỵ trong nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi! Tôi sẽ là điển
hình cho một tầng lớp mà cách mạng đang cần để an lòng dân miền Nam
với chủ trương chính sách trước sau…(không) như một! Nào là “tất
cả chúng ta đều là người chiến thắng, trừ bọn xâm lược Mỹ”.

Nào là “con người ta ai có chọn cửa
mà ra”. Nào là… “không phân biệt thành phần, tôn giáo, xu hướng
chính trị”! Nào là “bảo đảm tự do buôn bán”, “bảo đảm tài sản, tư
hữu” vv…Còn nhiều thứ nói dối, nói láo, nói đấy rồi nuốt lời như
không…mà Goebbel có sống lại chắc cũng…chào thua! Báo Tin Sáng,
tờ báo tư nhân duy nhất được cho sống ít ngày vì có thành tích “ủng
hộ cách mạng” (sự thật là “ngây thơ cách mạng”) đã phải tung ra một
bài châm biếm “Nói dzậy mà không phải dzậy”, sau này trở
thành một “dấu ấn in trên mọi chính sách” được tung ra và trở thành
câu nói mỉa của mọi người, kể cả cách mạng cũng như không cách mạng!

Cũng cần nói qua về cái việc “nói
dzậy mà không phải dzậy”
cứ diễn hàng ngày, hàng giờ xuất phát
từ đâu đến nỗi, những người cách mạng làm tuyên huấn như chúng tôi
lắm lúc phải bỏ chạy trước thắc mắc của ngay bà con, cô bác, người
thân. Chỉ riêng cái chuyện “đi học” (sự thật là đi tù khổ sai vô
thời hạn không cần xét xử) của các sĩ quan “ngụy” đã làm tan nát lần
thứ hai biết bao gia đình tưởng sẽ vui vẻ đoàn tụ sau bao năm xa
cách.

Chẳng hiểu thông báo “mời” sĩ quan từ
cấp úy ngụy đi học tập có câu “mang theo đồ dùng, lương thực sinh
hoạt đủ…20 ngày” để rồi đi… “mút mùa” không tin tức xuất phát từ
đâu? Chính cái câu hứa hươu của ông Trần Văn Trà, “những người có
con em đi theo cách mạng được coi như gia đình cách mạng”,
đã
làm Hoàng Mãnh, Nguyễn Tài và cả ngàn ông cán bộ cách mạng khác bị
gia đình chửi rủa, thậm chí bị đuổi khỏi nhà. Hoàng Mãnh còn bị mẹ,
bà Võ Đức Thu, đòi lại cả chiếc đồng hồ báo thức (không phải vì
tiếc), vì thấy họ chẳng làm gì (do không biết rằng họ có muốn cũng
chẳng làm gì được) để “chuộc” anh, em, nội ngoại ra khỏi trại tập
trung kiểu Goulag
([10])
ở Nga!

Rồi vợ con sĩ quan, công chức “nguỵ”
đang “học tập” bị mời đi kinh tế mới để mấy ông cán bộ Việt Cộng giờ
thứ 25 chiếm đất, chiếm nhà… Tiếp theo là hai lần đổi tiền theo
kiểu cướp trắng, cải tạo tư sản, cải tạo công thương, tịch thu hàng
hóa từ các tiệm lớn nhỏ đến các sạp hàng bầy lề đường Lê Lợi, Lê
Thánh Tôn, chợ Bình Tây, Bến Thành… về các kho của Phòng, Sở…
Cuối cùng là tất cả biến thành mây thành khói dưới bàn tay phù phép
của những tên “lưu manh cộng sản”, tiền bối của những mafiosi được
tổ chức từ trên xuống dưới sau này!

Sự nói đen thành trắng, nói dối, đánh
lừa bằng cách thay chính sách xoành xoạch, những người sáng suốt đã
thấy ngay: Nó phản ảnh một mâu thuẫn rất lớn ở từng lớp chóp bu.

Là người từng làm việc trực tiếp với
các “ông to” của “Rờ”, tôi thấy các ông này quả là có nhiều suy nghĩ
đáng nể vì họ có thực tế suốt 35 nằm hầm, bám dân. Một số ông đi B
cũng có tư tưởng thoải mái hơn, thậm chí đôi lúc còn tỏ ra lo sợ một
cuộc cải cách ruộng đất, một cuộc cải tạo tư sản kiểu miền Bắc sẽ vô
cùng phức tạp và sẽ đẩy nhân dân miền Nam Việt Nam vào đói khổ, từ
đó sẽ có những cuộc bạo loạn không thể lường trước. Lý do: dân miền
Nam không “hiền” như miền Bắc. Ruộng đất, cơ sở phương tiện sản xuất
không nghèo nàn như miền Bắc và nói cho ngay thì hậu quả các chính
sách cải cách, cải tạo đủ loại đã mang đến cho miền Bắc những nỗi
oan trái, cay đắng, hao của, chết người như thế nào, chẳng phải chỉ
anh em đi tập kết mới biết, mới từng nếm trải. Cả những loại kỳ cựu
và chính trị loại xoàng như tôi cứ nói đến chúng vẫn còn tởn. Vậy
thì ai có công nhất trong cuộc chiến thắng cuối cùng, các ông tướng
Việt Cộng miền Bắc, các ông tướng Việt Cộng miền Nam làm gì chẳng
phát sinh ý kiến đối lập, phủ nhận nhau, thậm chí chửi thẳng vào mặt
nhau như ông Trần Văn Trà đã chửi thẳng ông Nguyễn Ngọc Hiền, cánh
tay phải của tướng Văn Tiến Dũng trong tập sách bị… cấm tái bản
sau khi tướng Trà hết chức vụ chỉ còn cái hàm tướng… không quân!

Tôi biết rõ những mâu thuẫn chết
người giữa các nhà có chức quyền cao nhất lúc ấy trong vấn đề Chính
Phủ Cộng Hòa Lâm Thời Miền Nam Việt Nam nên giải tán hay nên cho tồn
tại? Thống nhất hai miền ngay hay chờ ít năm? Cấm ngay lập tức hay
cứ cho phép có kiểm soát tờ báo tư nhân như Tin Sáng của đám Ngô
Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận? Rồi đến các vấn đề cụ thể như bắt hay không
bắt nhà văn này, nhạc sĩ nọ, nhà chính trị kia vốn đối lập với Thiệu
nhưng vẫn chửi cộng sản? Cho phép diễn viên này hoặc cấm diễn viên
nọ hành nghề?

Tất cả đều được thảo luận thậm chí
cãi vã to tiếng từ ở các hội nghị cho đến các sa lông, từ các ông to
đến các ông nhỏ mà tôi có dịp được nghe như một nhân chứng… câm!
Có điều cái đầu ương bướng của tôi biết phân tích và tổng kết nên
tôi sớm nhìn ra: Cuộc đánh nhau nội bộ về đường đi, hướng tới trong
thủy thủ đoàn và thuyền trưởng lái con tàu Việt Nam Thống Nhất đã
bắt đầu!

Chỉ riêng mặt văn hóa tư tưởng, sự
chia rẽ đã đến mức không thể hòa giải về cái Đẹp, về cách đánh giá
con người của những người cho ai sống được sống, bắt ai chết phải
chết!

Người ta không thể không cho mọi
người nghe nhạc, treo tranh, xem phim, coi hát.

Vậy hát cái gì? Hát làm sao? Ai hát?

Đó là một thực tế khách quan không
thể không giải quyết. Chúng tôi, những văn nghệ sĩ miền Bắc được
tăng cường sẽ phải làm gì trước các ý kiến đối nhau chan chát hàng
ngày của các ông lãnh đạo chóp bu? Văn phòng của ông Lưu Hữu Phước,
bộ trưởng trong chính phủ lâm thời đưa ra một loạt công văn chỉ thị,
danh sách văn nghệ sĩ đã “cộng tác đắc lực” với ngụy quyền, đã làm
phim, lên sân khấu bôi xấu cộng sản…phải kiên quyết gạt bỏ. Trái
lại, Ban Tuyên Huấn Trung Ương Cục Miền Nam của ông Trần Bạch Đằng
(Tư Ánh) người trực tiếp với cơ quan xuất bản của tôi, lại ra các
“chỉ thị” ngược lại! Trong khi người ta rất “lập trường không khoan
nhượng” đối với ca sĩ này, nhạc sĩ nọ thì, từ một phía có “lực” hơn,
lại nhân danh quần chúng, ngay từ ngày đầu cho phép các đoàn cải
lương đủ loại tiếp tục đi diễn đủ các thứ vở, tất nhiên trừ những vở
chống cộng!

Ai cũng to như ai, cũng có quyền như
ai, chỉ khổ ba anh Bắc Cờ mới vào, chẳng biết ăn nói thế nào! Tôi,
một thứ bổ sung vào những giờ thứ 30, 31 vừa chân ướt chân ráo đặt
chân tới sân bay Tân Sơn Nhất đã phải đối đầu với sự lựa chọn: Mình
sẽ theo quan điểm của anh nào?

Vở bi hài kịch hay giấc mộng làm ăn
đứng đắn đàng hoàng của tôi bắt đầu tan vỡ… Sự tất…thua của âm
nhạc chân chính nói riêng và “văn nghệ có học” cũng gióng hồi
chuông… rút lui từ đây.

Trở lại với những ngày nghe đủ loại
tin tức, đủ loại nhận xét về cái “miền Nam đau thương và anh dũng”
được giải phóng mà không có mặt của tôi, trở lại với sự thất vọng to
lớn, khi được biết cả gia đình tôi đã di tản sang Mỹ ở giờ phút cuối
cùng, tôi như người bị dội thùng nước lạnh đến mức không còn chút tư
tưởng nào muốn được bổ sung cho miền Nam nữa thì… đùng một cái
người ta lại dội một thùng nước nóng cho tôi. Tôi được lệnh điều
động lên Ban Thống Nhất để nhận chỉ thị đi B cấp tốc! Mặc dầu Sài
Gòn đã im tiếng súng gần hai tuần, tôi vẫn được lãnh đủ thứ tăng,
bạt, ba lô, quần áo, lương khô y như thời đi B trong chiến tranh để
hôm sau có mặt tại Sài Gòn kịp “phúc khảo” một số tiết mục ca nhạc,
kịch của anh em văn nghệ sĩ “tại chỗ”. Hà Mậu Nhai còn viết thư
riêng nói toạc ra rằng mấy ông X,Y…trình độ khó thuyết phục mấy
tay cỡ S,K,P…ở trong này lắm!

Thế là cái “máu cách mạng” trong tôi
nổi lên cuồn cuộn. Chỉ một buổi chiều, tôi đã xếp xong mọi thứ “bảo
bối” cần thiết. Cụ thể là một thùng tổng phổ từ Beethoven, Mozart
đến Debussy, Ravel, Gershwin
([11])..,
một va ly gần trăm đĩa hát đủ loại giao hưởng, ballet, opéra,
sonate… và cả những đĩa gọi là nhạc nhẹ của phe xã hội chủ nghĩa
để làm bằng chứng cho quan điểm của tôi là âm nhạc đích thực phải là
âm nhạc kinh điển. Các thể loại khác không phải là cấm như người ta
đồn mà chỉ được coi như thứ giải trí nghe cho vui, nghe để ăn uống
thêm ngon miệng, rồi… bỏ qua! Chẳng có quà bánh, hàng hoá buôn bán
gì, nhưng tôi là người có trọng lượng hàng hóa nặng nhất. Trái với
những người khác, lúc lên đường đi tăng cường thì đi vay mượn, thậm
chí bán luôn những gì có thể bán để làm vốn “phát triển kinh tế” sau
này. Tính theo thời giá lúc bấy giờ… 1 đồng miền Bắc được Ba Tầu
Chợ Lớn mua tới 1 ngàn đồng miền Nam, vì họ tưởng miền Bắc là kẻ
chiến thắng sẽ hủy tiền “ngụy”. Sau này tôi mới hiểu vì sao mà mấy
ông miền Nam tập kết bay vào lại chóng giàu có, nhà cửa sang trọng
tới mức nằm mơ cũng chẳng thấy. Cả một ngôi biệt thự đồ sộ ở đường
Nguyễn Phi Khanh, Minh Quân mua có…ba ngàn rưỡi đồng miền Bắc ––
Ba triệu rưỡi tiền ngụy! Đình Tấn, Văn Ký mua mỗi anh một xe hơi
Madza, Toyota chỉ có 100, 155 đồng!…Riêng tôi, trong tay vẻn vẹn
300 đồng vì đi một mình, nhà cửa, tiền nong để lại cho vợ con, là
người ngây thơ đến…ngu đần nhất thiên hạ.

Loại trừ cái bọn cướp không nhà cửa,
tài sản nổi chìm của những người bỏ chạy, ngay việc “mua rẻ” tôi
cũng chẳng màng! Không những thế, hơn 300 đồng miền Bắc mang vào,
tôi đã theo đúng quy định của đảng và Nhà Nước hai miền: nộp cho
ngân hàng để mỗi tháng rút ra đúng một trăm đồng tiền mới đổi! Nghĩa
là tôi chẳng có gì ngoài mấy bộ quần áo, một tủ sách và đĩa hát.
Phải hai tháng sau đó, khi rút đủ tiền, tôi mới mua nổi một bộ nghe
nhạc tàm tạm, để mấy cái đĩa hát mang theo được vang lên trong căn
hộ ở tầng 3 đường Gia Long mà người ta phân cho tôi đến tiếp quản.
Căn hộ này với đầy đủ tiện nghi, giường, tủ, sa lông, máy lạnh…
tôi còn ở mãi cho tới những ngày nó xuống cấp, tiền thuê lên giá và
cho đến lúc tôi về hưu chưa bao giờ thuộc chủ quyền của tôi.

Không phân phối, không hóa giá, không
giải tỏa, căn nhà vẫn là của Nhà Nước. Tôi chẳng bao giờ chạy chọt
để xin được phân phối một cái “ma maison”
([12])
như hầu hết cán bộ cách mạng không trừ cả những nhân viên quèn từng
xin được, miễn có anh Hai, anh Ba, anh Tư đỡ đầu, có thư tay… gửi
đến các ông Tư Bi, Thanh Hải, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà đất.
Tôi ngu hay quá “cao đạo” đến nỗi chẳng có gì khi về hưu ngoài đồng
lương vừa đủ tiền thuê nhà và trả tiền điện nước? Nghĩ cho cùng, tôi
chỉ là một anh văn nghệ sĩ đến chết cũng chẳng hết ảo tưởng, một
người “cộng sản” còn hơn cả các ông “cộng sản có chức có quyền” nếu
hiểu cộng sản như người nguyện cống hiến đời mình cho nhân dân và
dân tộc!

Nhưng cũng lại điều may mắn đã đến
với tôi lần nữa, vì không chức không quyền nên không bị dính vào các
vụ “mua chuộc”, thậm chí “đầu hàng” trước những người mà trước đó ít
lâu còn bị xếp vào loại phải… cảnh giác! Thực tế đã chứng minh
hàng loạt cán bộ (kể cả văn nghệ sĩ) đã dính vào các vụ kiếm chác và
vì không khéo chùi mép đã bị ra tòa, nằm khám. Xoàng nhất cũng là
lao vào các cuộc nhậu nhẹt chơi bời, buôn bán lừa đảo. Người lãnh án
tù, kẻ chết chìm trong các cuộc nhậu nhẹt rồi… hết luôn vì các
bệnh ung thư gan, phổi, dạ dày! Dù tôi không kể tên thì mọi người
đều có thể biết ai đã ra tòa vì ăn cắp, vì buôn lậu, ai đã tự kết
liễu cuộc đời trong các cuộc tắm rượu Hennessi, J. Walker và trong
các ổ nhện! Riêng tôi, vì không vướng bận gia đình vợ con, tôi lao
ngay vào giấc mơ hão huyền: xây dựng bộ mặt mới cho văn nghệ…

Tôi được mời đi duyệt (lúc ấy gọi là
phúc khảo) chương trình ra mắt của đoàn ca nhạc kịch Kim Cương với
dàn nhạc Ngọc Chánh, ngay đêm đầu tiên tới Sài Gòn. Cái cảm giác ghê
sợ đến rùng mình, tới nay, vẫn còn nguyên trong trí óc tôi. Trong
cái rạp Hào Huê nóng bức, đầy tiếng rao hàng, tiếng chửi thề, sặc
mùi thuốc lá, nước hoa, mồ hôi, người ta ra mắt cách mạng bằng vở
Lá Sầu Riêng
, một loại mê lô bi hài kịch cũ rích về nội dung, ấu
trĩ về phong cách và hết sức nghèo nàn về phương tiện kỹ thuật.
Micro treo được điều khiển bằng dây ròng rọc theo chân diễn viên,
ánh sáng không thay đổi từ đầu đến cuối, còn âm nhạc thì chao ôi,
một thứ tả pí lù! Để gây buồn, hỗ trợ cho diễn viên đang giả vờ
khóc, người ta tương ngay bài Giọt Mưa Thu do một cây violon
nào đó sau cánh gà đệm theo! Đặc biệt là khi dàn nhạc Ngọc Chánh
bước ra sân khấu thì cả một rạp nổ tung tiếng hoan hô, tiếng rầm rầm
xập ghế của các vị choai choai vừa nhai chewingum vừa hoan hô khi
nhận ra cái nhóm Crazy Dogs ngày xưa, té ra hôm nay vẫn còn nguyên
vẹn! Nhưng chương trình của họ còn có những bài hát cách mạng nữa
nên họ không thể nào crazy thêm được, dù đã “rock hóa” tất tần tật
những ca khúc của Xuân Hồng
([13]),
Hoàng Hiệp!

Tới đây thì tôi không thể chịu đựng
thêm nữa. Tôi lẳng lặng bỏ ra ngoài để thoát cái cảnh phải ngồi xem
và nghe người ta bôi bác nghệ thuật! Tôi chờ các vị trong hội đồng
chung khảo ra về (chung một xe) bằng cách thả bộ quanh mấy con đường
trung tâm Chợ Lớn để bỗng nhận ra xã hội nào cũng phải có nền văn
hóa phục vụ cho nó. Xã hội “mại dzô” khắp nơi này đúng là phù hợp
với cái rạp Hào Huê và những gì đang diễn ra trong đó! Nền tảng xã
hội ở đây là một thứ “tả pí lù” thì đừng hòng thay đổi nó nếu cơ cấu
chính trị này không thay đổi. Và muốn thay đổi thì…hãy đợi đấy!
Thử xem các nhà chính trị “đánh võ” thế nào trên cái chiến trường
không tiếng súng Sài Gòn Chợ Lớn này? Còn loại như tôi, hãy né những
gì ít dính dáng đến quyền đến lợi, đến chuyên môn càng nhiều càng
tốt.

Tôi chẳng phải chờ đợi nhiều để hiểu
được các vị có quyền về văn nghệ cao nhất lúc này gồm các ông Sáu
Lăng, Rum Bảo Việt và một ông có vẻ cũng có tiếng nói quyết định từ
miền Bắc tăng cường là Bảo Định Giang
([14])
dưới sự lãnh đạo
cao nhất của ông Tư Ánh Trần Bạch Đằng. Tất cả các tiết mục mà tôi
xem thấy phát ngượng được đồng loạt “duyệt cho diễn”!

Không phải không có ý kiến phản ứng
tự nhiên của một số từng “đến nhà hát như đến nhà thờ”, từng xem
không ít tác phẩm văn nghệ nổi tiếng của sân khấu miền Bắc, từng
nghe không ít bản nhạc bất hủ cả ở sân khấu Nhà Hát Lớn Hà Nội cũng
như ở Mát-xcơ-va, Praha, Berlin, Paris… Tuy nhiên, trước lập luận
rất “chính trị” của mấy ông “nằm vùng”, mấy ông Rờ, mấy ông tập kết
luôn miệng chửi bới miền Bắc hẹp hòi, Mao-ít…, đặc biệt là mấy ông
“to” chẳng biết mô tê răng rứa gì về cái Chân, Thiện, Mỹ ra
sao…rằng: “Từ chỗ họ diễn chửi mình, họ hát toàn bài phản động,
ủy mị, nay họ đã hát những gì là của cách mạng. Vậy là họ bắt đầu
“tự cải tạo” rồi. Phải tạo điều kiện cho họ tham gia phục vụ đồng
bào đang chờ xem “văn nghệ cách mạng có cải tạo được họ không?”

Vả lại, hàng chục đoàn nghệ thuật miền Bắc gồm ca múa, tuồng, chèo,
giao hưởng, kịch nói…rồi đây, sau hai tháng rùm beng trên các ngã
tư, ngã năm đường phố không lấy tiền, khi đã rút hết, “đồng bào” sẽ
xem, sẽ nghe cái gì đây vv…?

Những luận điểm hết sức “chính trị”
như thế đẩy lùi ảo tưởng về một nền văn nghệ cách mạng theo kiểu tôi
suy nghĩ vào chỗ “thôi thì tạm nhân nhượng!” Quan niệm “thà
không có chứ có mà phản văn nghệ,  không nói đến phản chính trị
trong nội dung, thì chỉ có hại”… của tôi và một số anh em, bước
đầu đã bị đánh giá là quá khích, thiếu sách lược, khó thuyết phục,
thậm chí là không đúng chính sách hòa hợp hoà giải, tranh thủ nhân
tài của Đảng vv… Đáng xấu hổ là những kẻ được giao quyền lãnh đạo
cái nền văn nghệ cách mạng ở miền Nam lại là những vị có cái gu “văn
nghệ ba xu”! Tôi còn nhớ khi duyệt cho cải lương chi bảo Bạch Tuyết
ra mắt cách mạng mà tôi cũng được dự để xem con người nghe nói (?)
đã được Mỹ ưu ái bằng cách mời ký tên vào quả bom sắp thả xuống đầu
nhân dân miền Bắc như thế nào.

Hôm ấy đúng là một sự kiện… trọng
đại! Tôi phải qua mấy lần lính gác để được vào cái hội trường trên
đường Thống Nhất, sau này là nơi mở sổ số kiến thiết. Hàng đoàn xe
con đưa tới không thiếu vị chóp bu nào của chính quyền và Đảng…
Sài Gòn! Tôi được xếp chỗ ở hàng đầu. Các vị “to vừa” hàng hai, các
vị “to tướng” hàng ba, hàng 4 … để tránh có chuyện không hay xảy
ra nếu như một quả lựu đạn hay một thanh gươm văng từ phía sân khấu
xuống! Lòng “tự ái cách mạng” của tôi bị chạm nọc ngay khi thấy sự
long trọng quá mức, sự ưu ái đặc biệt dành cho các nghệ sĩ Sài Gòn
loại “quốc gia chi bảo” này.

Tôi nhớ đến câu nói của ông Trần Bạch
Đằng nhận xét về sự ra quân hùng hổ, ào ạt của các đoàn nghệ thuật
miền Bắc những ngày qua: “Bóp vú đàn ông còn hơn… xem văn công
Tổng Cục Chính Trị!”
Tôi cũng nhận thức được rằng ở cái đất này,
chỉ có cải lương làm vua và lãnh đạo thích gì thì cái đó sẽ phát
triển. Cái thích của các vị lại là cái tối kỵ đối với tôi, vì theo
tôi, lúc bấy giờ, sân khấu cải lương Sài Gòn là một mớ tả-pí-lù
nhất. Trong cuộc họp ở bộ Văn Hóa Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam, khi
giao ban, người ta cho biết về tình hình phức tạp hiện nay của sân
khấu Sài Gòn. Tôi cũng được biết nghệ sĩ nào “phản động” nhất, nghệ
sĩ nào chửi Việt Cộng hăng hái nhất, nghệ sĩ nào nổi tiếng như cồn
nhưng vẫn…chưa biết chữ, ngoài chữ ký của mình.

Vậy mà, hôm nay, người ta, kể cả các
vị lãnh đạo cao nhất của thành phố đến “chào mừng” sự ra mắt của
“cải lương chi bảo” như đi…“trẩy hội”! Tôi nghĩ tới những ngày nhà
hát giao hưởng, kịch nói trung ương ra mắt giữa Sài Gòn, chẳng thấy
một ông lãnh đạo nào có mặt, ngoài một số văn nghệ cách mạng hạng
hai, hạng tư tưởng lầm là phen này dân Sài Gòn cứ là… lác mắt.
Đông người xem thật đấy, nhưng lý do chính là vì…tò mò, muốn xem
thử Việt Cộng có biết văn nghệ là cái chi chi không? Hoặc quá lắm là
xem để biết cái món “văn nghệ chính trị” nó khô khan và khó nuốt đến
mức nào? Còn nhiều sự thật đáng buồn… cười nữa mà tôi sẽ cố gắng
để con cháu sau này đọc như đọc truyện hài hước của Nexin

(
[15])!

Trở lại với đêm ra mắt “cải lương chi
bảo” trước các quan chức cách mạng Sài Gòn, tôi đang suy nghĩ mung
lung về địa vị con người làm văn nghệ ở cái đất mới này rồi đây chắc
chẳng mấy hay ho nên chẳng để ý xem trên sân khấu diễn ra trò
gì…bỗng như sấm rậy, cả hội trường vang từng tràng vỗ tay kéo dài,
bổng trầm, crescendo, diminuendo, sforzando…tưởng chừng không bao
giờ ngớt!

Thì ra “cải lương chi bảo” “hạ cố”
cho mấy anh văn nghệ cách mạng được ngắm dung nhan. Nghĩa là, vừa
bước chân ra sân khấu, chưa kịp diễn gì, “cải lương chi bảo” đã bị
chẹn họng, hay nói cách khác đã được “đại đa số” nhà lãnh đạo cộng
sản thứ thiệt, bỏ phiếu tán thành: Duy trì danh vị, tài năng của cô
từ nay dưới chính quyền cách mạng! Mọi hành động, mọi sinh hoạt, lời
nói, tuyên bố trong quá khứ của cô, kể từ nay, coi như… cho qua!

Trong lúc ngôi sao văn nghệ Số Một
miền Nam nhoẻn nụ cười kéo dài mãi không sao ngậm miệng lại được vì
những tràng vỗ tay, reo hò, cổ vũ đến vỡ tai khán giả, thì một người
đứng lên ngay hàng ghế đầu, quay mặt lại khán giả, hai tay chống
nạnh, hét tướng lên: “Lạ thật! Vỗ tay cái gì? Chưa biết tài năng
ra sao mà đã vội vỗ tay sớm thế?”
Tiếng nói vừa hằn học, vừa như
ra lệnh làm tràng pháo tay xịt ngay tại chỗ kèm theo vài tiếng hỏi
hớt hải: “Ai đấy? Tay nào gớm nhỉ!?”... hay vài câu nói đồng
tình: “Đúng lắm! Làm chi mà nịnh bợ quá thế?”… Các vị lãnh
đạo to nhất ngồi ở hàng ghế thứ hai, thứ ba, tuy ánh sáng đã tắt
dưới khán phòng, nhưng đèn sân khấu đủ cho tôi nhìn thấy trong tích
tắc ba thái độ rất rõ ràng:

–– 1) Lạnh lùng, nét mặt ngang bằng
xổ ngay như ảnh chân dung năm cát-tó đít-duýt! Số này hình như đa số
đều là “cỡ lớn” ở miền Bắc mới dzô.

–– 2) Bị “sốc” rõ trước phản ứng
thiếu hòa hợp hoà giải dân tộc, một vị ghé tai các vị thư ký, bí thư
riêng hoặc các vị “bưng bê văn nghệ” hỏi: “Thằng nào đấy?” Đó là ông
Năm Xuân Mai Chí Thọ, em ruột ông Sáu Búa Lê Đức Thọ

–– 3) Một số mỉm cười gật gật đầu tỏ
vẻ tán thành thái độ liều mạng của một người có lẽ nữa khùng nửa tự
ái nghề nghiệp!

Cái anh chàng nửa khùng này là…
tôi!

Vâng, tôi đã bật lên vì tức giận dồn
nén bao lâu. Tôi nghĩ tới bao người tài năng, bạn bè đồng nghiệp và
cả bản thân trong những buổi ra mắt tác phẩm đầu tiên, các buổi
trình diễn đầu tiên, chẳng bao giờ có ưu ái quá mức đến như vậy! Tôi
có thể kể cả trăm trường hợp ra mắt một bộ phim, một vở kịch, một
bản giao hưởng của tôi và đồng nghiệp, thậm chí đến cái vé mời chính
tác giả cũng bị người ta quên… như một lẽ thường tình?

Phải chăng vì chúng tôi là “văn nghệ
sĩ Nhà Nước” thì tác phẩm, tài năng cũng là của Nhà Nước? Bao nhiêu
thứ dày vò đầu óc tôi từ lâu, tôi đã hèn mà nuốt đi nhiều lần, bỗng
hôm nay, cuộc chào mừng “Cải Lương Chi Bảo” quá đặc biệt đã như một
quả lựu đạn chạm phải kim hỏa. Tôi bùng lên như mất hết tự chủ! Hà
Mậu Nhai, ngồi cạnh tôi, lo lắng giật áo tôi kéo xuống và gần như
van nài tôi bình tĩnh. Từ lúc đó, tôi và có lẽ còn một số người
khác, chẳng còn tâm trí nào để thưởng thức “tài năng siêu việt” của
“cải lương chi bảo” nữa. Giữa giờ giải lao, có thời cơ thuận lợi,
tôi đi một mạch về Phan Kế Bính, chẳng báo cho ban phúc khảo, phúc
khiếc gì hết.

Tôi muốn tỏ thái độ không tán thành
cái cách tổ chức rùm beng để khoe cái “chi bảo” của mấy ông rồi đây
sẽ lãnh đạo cái “văn nghệ giải phóng” đi đâu, theo con đường nào?
Giữa tôi và một số người có trách nhiệm chèo lái con thuyền văn nghệ
miền Nam bắt đầu có những mâu thuẫn không thể điều hòa về chân giá
trị của văn nghệ chứ chưa nói đến cái Đúng, cái Thật hoặc đao to búa
lớn hơn là “lập trường vô sản”, “đảng tính”, “nhân dân tính”… !

Sự coi thường mấy tay “cai” văn nghệ
vô học của tôi té ra vào Sài Gòn “giải phóng” mới có dịp bùng lên
mạnh mẽ, quyết liệt hơn, không cách nào kìm hãm. Lạ một cái là sự
hăng máu vịt của tôi lại được một số lãnh đạo, đặc biệt là các văn
nghệ sĩ Rờ ủng hộ. Ngay trong cơ quan thành ủy, đặc biệt là mấy ông
Trung Ương có dịp vào “kinh lý” miền Nam còn lấy tôi làm tấm gương
về tinh thần đấu tranh không khoan nhượng trên mặt trận văn hóa văn
nghệ. Tôi được một số lãnh đạo trực tiếp các ngành nghệ thuật Trung
Ương và của “chính phủ ông Huỳnh Tấn Phát” động viên. Chính ông Lưu
Hữu Phước, người “to” nhất về văn nghệ miền Nam lúc ấy trên cương vị
bộ trưởng, đã cung cấp tài liệu cho tôi để tôi nói có sách mách có
chứng về những cá nhân, những tác phẩm nào không ngừng chống phá
cách mạng, thậm chí là “phần tử nguy hiểm” tuyệt đối không được xử
dụng, thậm chí đổi tên cũng không được! Tôi lại “ngu lâu” lần nữa!

Thực tế, ông bộ trưởng Lưu Hữu Phước
cũng như ông Tuất Việt, phó ban Tuyên Huấn chẳng có tí quyền lực gì
trước mấy ông “chính trị lão thành” miền Nam dù cùng ở Rờ, cùng chạy
tóe khói với Trung Ương Cục sang tận Campuchia trong chiến dịch
Johnson City. Cái tờ Sài Gòn Giải Phóng, cả cái nhà xuất bản Giải
Phóng của tôi hầu hết đều là dân Bắc Cờ đi B, hoặc dân miền Nam
nhưng không một ngày biết mùi Rờ! Vì vậy, không có lý do gì để mấy
“khối u Bắc Cờ” này tồn tại! Cuộc tranh giành chức vụ sau “chiến
thắng mùa xuân” –– thực ra là mùa hè nóng chảy mỡ chứ đâu có mùa
xuân mùa xiếc gì như mấy nhà báo Việt Cộng tô hồng đâu –– cứ thế kéo
dài trong mọi lãnh vực, ác liệt và dai dẳng bởi những cuộc thanh
toán nhau cả về tinh thần lẫn thể xác.

Có những cái chết rất bí mật thường
gọi là tai nạn, là tự sát, không bao giờ được làm rõ. Có những vụ
gài độ để hạ bệ nhau, cho nhau vào tù. Có những vụ đường đường là
một cán bộ cách mạng, một văn nghệ sĩ, diễn viên lâu năm, một thiếu
tá quân đội, công an bỗng biến mất và sau đó có tin… vượt biên? Có
nhạc sĩ nổi tiếng bỗng dưng trở thành kẻ buôn lậu thuốc phiện bị xử
công khai tới 7 năm tù (lúc này tội ma túy chưa có án tử hình) nhưng
sau 3 năm, được ra, lại được nghiễm nhiên đề cao trên khắp báo chí,
diễn đàn thuộc loại “số dzách” cả về uy tín lẫn tiền bạc. Tất cả đều
có gốc miền Nam và những lần có dịp “sắp xếp lại tổ chức”, người ta
lại lợi dụng thời cơ, gạt bớt những tay “Bắc Cờ” hoặc miền Nam nhưng
đầu óc…nặng mùi miền Bắc đi, dù có Rờ hay không Rờ.

Sự thanh toán nhau quyết liệt diễn ra
liên tục, công khai hoặc âm ỷ tới những năm 1980, 1990 và có lẽ sẽ
còn mãi mãi, vì theo tôi, khó thể hoà hợp về tính cách, về trình độ,
về sinh hoạt, nhất là về tư tưởng của hai “loại” người Việt Nam ít
nhất tới hết thế kỷ… 21!

Ở miền Bắc, tôi đã có nhiều dịp thấy
sự khác biệt khó hoà hợp này. Ví dụ: Là miền Nam thì ăn nói phải
“thẳng như ruột ngựa”, thái độ phải ngang tàng, “anh chị” đôi chút.
Là miền Nam thì phải liều mạng, không sợ cái gì, đã chơi là phải
chịu chơi hết mình. Là miền Nam thì mọi quan hệ làm ăn, tình cảm,
đồng chí, đồng đội…đều phải biểu hiện ở bàn…nhậu! Nhậu đến bê
bết, quên đất, quên trời, đến bán sạch, đến đổ nợ! Là miền Nam còn
cả vạn điều khác biệt nữa.

Riêng về cái Đẹp thì tôi xin chào
thua!

Với tôi, thứ đẹp nhất trên đời của
các vị cán bộ miền Nam tập kết chỉ có một: đó là cải lương! Sáu câu
vọng cổ với lời ca rẻ tiền, văn chương ba xu, mỗi khi nghe nghêu
ngao bên chiếu rượu thì tôi phải tìm cách đi “rửa tai” ngay.

Tuy nhiên, chớ có tranh luận với các
vị về cái thứ nửa kịch nói, nửa xàng xê, hồ quảng, nửa tuồng tây,
tuồng tầu, vừa nhị, bầu, tranh, tứ, vừa ghi-ta, organ, violon đôi
khi cả trompette, clarinette coi nó thuộc cái thể loại nào trên thế
giới và tiếp thu truyền thống nào của cái dân Việt này. Chết có
ngày!

Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ II
đã phải đầu hàng cải lương!

Đại Hội lần thứ III tại Hà Nội chỉ vì
dám… “sờ” tới cải lương, một chút xíu thôi đã nổ ra một xì căng
đan thuộc phạm vi “đoàn kết giữa hai miền Nam Bắc.” Người lãnh đủ,
no đòn hội chợ ngay tại câu lạc bộ của hội văn học nghệ thuật 96 phố
Huế, chính là nhà thơ Huyền Kiêu. Ông đã bị ông Ngọc Truyền và một
số anh em văn nghệ miền Nam tập kết, ra tay dạy cho bài học lễ độ
với cải lương đến nỗi phải đi… bệnh viện!

Thời kỳ học chính trị ở Tổng Cục
Chính Trị, các ông Võ Hồng Cương, Lê Chưởng, mấy nhân vật lãnh đạo
Tổng Cục, thậm chí đích thân ông đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng
không ít lần nhắc nhở anh em văn nghệ sĩ quân đội: “Cần hết sức thận
trọng trong việc đấu tranh với các hiện tượng đôi khi quá đáng của
anh em văn nghệ miền Nam.”

Ông Hoàng Tố Nguyên
(
[16])
từng chống đôi nạng gỗ, giơ một chiếc lên chỉ thẳng vào mặt một chủ
tịch đoàn người miền Bắc, nói thẳng thừng trước hội trường Nhà Hát
Lớn đang họp “nội bộ” để cơ cấu ai sẽ vào Ban Chấp Hành Hội Liên
Hiệp Văn Học Nghệ Thuật miền Bắc, là “Tên Lưu Quí Kỳ

([17])
kia đã làm khổ anh em văn nghệ sĩ miền Nam rất nhiều rồi! Chẳng khác
gì Tố Hữu ở miền Bắc đâu. Tôi đề nghị: Không bầu!”…

Tội cho ông Lưu Quý Kỳ. Hồi trước năm
1954, trong bưng biền Nam Bộ, ông ấy ra lệnh cấm cải lương, gây ra
sự bất bình to lớn đến mức nhiều cán bộ kháng chiến bỏ vào thành để
được nghe…cải lương. Mà quyết định ấy là của ông Ba Duẩn, chứ ông
Lưu Quý Kỳ có quyền gì mà đơn phương ra lệnh!

Sự khó chịu với lối sống “thắt lưng
buộc bụng” mà các “lãnh tụ” Đảng áp đặt lên toàn xã hội miền Bắc đã
gây ra vô số chuyện đau lòng. Chuyện nhà văn miền Nam tập kết Vũ Anh
Khanh, vừa đi dự hội nghị các nhà văn Á Phi về xin vào giới tuyến để
sáng tác rồi vượt sông Hiền Lương tìm tự do, bị chết đuối, xác lại
trôi về bờ Bắc. Chuyện ông A ông B bị đưa đi cải tạo vì tội tìm
đường vào Nam… theo địch (thực sự là chỉ muốn…về quê), chuyện ông X
ông Z… ăn cắp bị bắt quả tang. Còn vô số chuyện lộn xộn do học
sinh các Trường Miền Nam số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8… gây ra ở các
địa phương, khi thì đánh nhau với công an, khi thì đốt nhà dân,
nhưng vì tình đoàn kết Bắc Nam nên báo chí êm re, thậm chí trong các
cuộc họp cán bộ về trị an cũng không được phổ biến!

Không ít các cháu học sinh các trường
đó sau 1975 trở về Nam đã lên nắm quyền lãnh đạo trở thành các “nhà”
nọ, “nhà” kia, “giám” này, “tổng” nọ!…

Trong đầu chúng tôi hình thành từ lúc
nào không biết một định kiến: “Hãy tránh xa các anh Hai, anh Ba, anh
Tư ra, kẻo ăn đòn!” Tất nhiên, không ít anh em miền Nam “chơi được”,
nhiều anh em rất biết nếu không có dịp học hành đến nơi đến chốn ở
miền Bắc thì cũng chẳng thành được “nhà” nọ, “nhà” kia (thật sự).
Chính những anh em này lại bị coi là dân “Nam Bộ đã…Bắc Kỳ hoá” và
sau này cũng bị cô lập chẳng kém dân Bắc Cờ thứ thiệt.

Trong thời gian này, đặc biệt có mấy
vị nắm tờ Thống Nhất trước kia từng cao giọng chửi bới nhóm Nhân Văn
Giai Phẩm để tỏ vẻ ta đây kiên định lập trường “theo Đảng đến cùng”,
bỗng quay ngoắt 180 độ, chửi xéo cái Đảng miền Bắc không tiếc lời
([18])!

Tóm lại, thà hòa hợp với “ngụy” chứ
không hòa hợp với mấy tay Bắc kỳ… cục! Vấn đề này được chứng minh
cụ thể trong ngành văn hóa văn nghệ khi đa số cán bộ tăng cường
phải…cuốn cờ về Bắc. Dễ nhận thấy nhất là khi có chủ trương thành
lập hội này hội nọ, người ta “cơ cấu” vào các ban chấp hành chấp tỏi
gần như chỉ là người miền Nam, là những “đồng chí Rờ”, đồng chí “tại
chỗ”.

Tôi còn nhớ khi chuẩn bị thành lập
Hội Âm Nhạc thành phố HCM, họ “cơ cấu” vào Hội này cả những thành
phần mà theo báo cáo của “tổ chức” là những phần tử “có quan hệ với
CIA”, những thành phần đã có hộ chiếu ra đi chính thức như trường
hợp Nghiêm Phú Phi.

Với quyết tâm cải tổ tận gốc những
hội, chi hội không theo kiểu miền Bắc giáo điều, “danh sách cơ cấu”
đã được thông qua, miễn sao không có mặt mấy anh miền Bắc 75, mấy
anh dù đi B, nhưng ngửi thấy mùi…có thể nổi danh, mấy anh có tư
tưởng “làm ăn lớn” ở cái đất… làm giả hoặc không cần làm mà vẫn có
ăn này! Chỉ cần nêu những cái tên như Diệp Minh Châu, Lưu Công Nhân
(Mỹ Thuật) Nguyễn Văn Tý, Tô Hải, Phan Huỳnh Điểu (Âm Nhạc), Dương
Linh, Khương Mễ, Lê Minh Hiền (Điện Ảnh) Nguyễn Mạnh Tuấn, Nguyễn
Duy, Trần Mạnh Hảo (Văn Học)… và nhiều nhiều nữa bị thẳng tay gạt
ra rìa là đủ thấy sự chia rẽ sâu sắc đến mức nào! Điều đáng nói mà
người ta cứ lờ đi như là chuyện đương nhiên, là cái lệ: miền Bắc có
cái gì thì Sài Gòn phải có cái đó.

Những Hội mới được tổ chức ở “thành
phố mang tên Bác” nghiễm nhiên được coi như ngang hàng với các hội
Trung Ương, dù chỉ là Hội của một địa phương. Người ta ngang nhiên
trưng biển ở mặt tiền các trụ sở là Hội này Hội nọ chứ không phải
chi hội như các thành phố khác trong cả nước. Đây không phải chuyện
danh xưng mà là chuyện mấy anh Nam Kỳ không muốn chịu sự lãnh đạo
của mấy anh Bắc Kỳ hoặc hạn chế tối đa tác dụng lãnh đạo của mấy anh
Hội trung ương.

Chuyện “kỳ thị” Nam Bắc càng bộc lộ
ác liệt, gay go, thậm chí thô bỉ, ở các cuộc đụng chạm hàng ngày. Có
lần chính tai tôi đã nghe “Mấy cha Bắc Kỳ nên về mẹ nó miền Bắc
cho chúng tôi nhờ!”
… Hoặc phũ phàng hơn “ngoài đó đếch có
nhà ở, cơm ăn, nên kéo nhau vào đây để phá miền Nam!”
Thậm chí
có vị còn lớn tiếng tuyên bố “Không cộng tác với mấy thằng Bắc
Kỳ, không tiếp, không cho vào nhà!”
Thực tế là đã không ít
lần các vị lãnh đạo văn nghệ ở miền Bắc như Đỗ Nhuận, Nguyễn Đình
Thi, Nguyễn Xuân Khoát…vào Nam công tác không được đón tiếp hoặc
đón tiếp lạnh nhạt đến nỗi đi lại chỉ còn nhờ vào xe…xích lô, hoặc
nhờ một số anh em Bắc Cờ hoặc miền Nam đã “Bắc Cờ hoá” giúp cho di
chuyển bằng cách ngồi sau xe Honda. Chẳng một cái hội văn nghệ Xè
Gòn nào cho xe ô tô đưa đón, dù các hội này có cả chục chiếc nằm la
liệt ở trụ sở Hội Văn Nghệ 81 Trần Quốc Thảo.

Đau nhất là mấy anh em miền Nam có
tên tuổi bị coi là “Bắc Kỳ hóa”, bị cô lập vì cố gắng nhịn nhục ở
lại. Đa số bị vô hiệu hóa, thậm chí một chức danh nho nhỏ chứ chưa
nói đến đứng đầu ngành cũng không được chia phần.

Họa sĩ Diệp Minh Châu, Lê Thanh Trừ,
nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Tô Vũ, Văn Lưu chẳng có nổi một cái “tít”
chấp hành chấp tỏi gì. Có ông đã phát khóc sau những cú “bầu bán ba
bị” có chỉ đạo, cơ cấu sẵn.

Chẳng là nhân vật quan trọng gì,
chẳng ham hố trò chia phần chia ghế, một lần nữa, tôi lại chọn con
đường kemeisme – kệ mẹ nó. Nhưng là đơn vị trực thuộc tuyên
huấn Trung Ương Cục miền Nam –– sau ngày thống nhất là Thành Uỷ Sài
Gòn –– không công việc nào, chủ trương nào, đối sách nào mà tôi
tránh được “học tập”, “đả thông”, để rồi cứ trong bụng tức anh ách,
không sao xì ra được!

Tôi còn nhớ khi có chủ trương chọn
một số văn nghệ sĩ đi “tranh thủ” ở mấy nước phương Tây, lập tức
chia ra ba bè, bảy mối trong các vị có ý kiến nặng cân nhất. Mặc dầu
bên Công An phát hiện Thành Được đã bán nhà, bán xe ô tô và cả đến
cái xe Vespa cuối cùng “để chuẩn bị đi Tây”, hoặc trường hợp một
diễn viên có hiện tượng chuẩn bị vượt biên, người ta vẫn cương quyết
cho đi lưu diễn để tỏ ra biết “trọng nhân tài”, “biết thu phục nhân
tâm”!

Thời đó, cũng như bây giờ, quyền của
Công An to lắm, ý kiến của Công An nặng cân lắm, nếu các vị lãnh đạo
miền Nam vẫn làm được việc mình quyết làm ắt hẳn có lý do cũng nặng
cân không kém. Các vụ vượt biên của văn nghệ sĩ chế độ cũ đã được
phép hành nghề, cũng như các vụ “ra đi” nhờ chính tay Đảng tổ chức,
mỗi ngày đều có báo cáo đầy đủ khi giao ban. Chuyện tởm nhất là vụ
Thành Được “vù” nhân chuyến “công diễn” tại Tây Đức. Toàn thể anh em
văn nghệ được triệu tập đến 81 Trần Quốc Thảo nghe anh “Bảy hứa” Bảo
Định Giang phổ biến:

– Đây là một vụ bắt cóc!

Khiếp chưa! “Cải lương chi bảo” quí
tới mức các ông Tây phải bắt cóc để nghe cho sướng con ráy!

Cứ làm như tất cả chúng tôi là đồ
ngu, cứ như thiên hạ không nghe “đài địch” để biết Thành Được đã lên
đài Frankfurt chửi cha các vị, nhất là chửi hai chữ “bắt cóc” rằng:
“Chân yếu tay mềm, đường xá ngu ngơ, mà Bạch Tuyết, Ngọc Giàu còn
chạy thoát, huống hồ nam nhi trai tráng như tôi lại kiêm cả cầu thủ,
không chạy được hay sao?”
Rồi Thành Được kể về buổi liên hoan
của Việt kiều tiễn đưa cả ba nghệ sĩ Xè Gòn ra sao. Thành Được còn
động viên người về, còn xin người ta cho mỗi nữ “cải lương chi bảo”
thêm một cái măng tô cho đỡ rét. Vẫn theo Thành Được, nếu ở lại, hai
“ngôi sao” này chẳng biết làm gì mà sống vì cải lương ở trời Tây đâu
có ai xài! Còn Thành Được, toàn gia đều ở Tây Đức, anh ruột là triệu
phú và trước khi đi Tây, Thành Được chẳng hề giấu ý định “đi tìm tự
do” ngay từ lúc còn ở nhà cũng như khi được người ta mua vé máy bay,
làm hộ chiếu cho “vượt biên không mất tiền”, còn tiễn đưa, tiệc tùng
náo nhiệt nữa chứ!

Điều lạ mà chẳng lạ chút nào là mọi
thứ nhà cửa, xe cộ lúc bấy giờ do chưa bị quản lý chặt, nên các vị
lãnh đạo văn hoá cứ thoải mái chứng nhận và đóng dấu cho phép…
bán!? Vậy mà ý kiến của thành uỷ vẫn là “không ai được bàn tán,
xì xào về vụ Thành Được! Thống nhất là có ai hỏi thì cứ trả lời đúng
như trên đã phổ biến: “Bị bắt cóc!” Ai không chấp hành nghị quyết sẽ
nhận kỷ luật trước Đảng.”
Đảng nào vậy? Đảng của ông Thành Được
chăng?

Đúng vào hôm Bạch Tuyết, Ngọc Giàu
“chạy thoát vụ bắt cóc” trở về, người ta tổ chức đón tiếp linh đình
ngay trên quảng trường Nhà Hát thành phố. Chưa ai được đối đãi như
thế bao giờ. Những lời lẽ tôn vinh các nghệ sĩ “trung thành với tổ
quốc” đã “anh dũng vượt nguy hiểm đào thoát về với tổ quốc, với quê
hương” vv và vv… như một trò hề đang diễn ra thì bỗng dưng một giọng
nói rất to vang lên từ trên ban công Nhà Hát “Thế còn Thành Được
đâu?”
Để trả lời câu hỏi chẳng hiểu là khiêu khích hay tiếc
nuối, ông Dương Đình Thảo, trưởng ban Tuyên Huấn chụm tay lên miệng,
nói với lên cao, rất dõng dạc: “Thành Được chưa về! Chứ không
phải…không về”
!

Một sự dối trá trâng tráo đến tởm
lợm!

Chẳng biết ngay đêm đó, về bật đài
VOA, đài BBC lên, ông Dương Đình Thảo có thấy xấu hổ và đau đớn hơn
bị tát tai vì câu chuyện “Thành Được bị bắt cóc” ở Tây Đức –– lúc
này hai nước Đức chưa thống nhất –– hay không? Mà chuyện này đâu có
phải được phát một lần rồi thôi. Hai Đài này phát đi phát lại chuyện
Thành Được chạy sang “thế giới tự do” có kèm bình luận làm ngay
những người bình thường nhất của Sài Gòn cũng phải ngượng thay cho
cái mồm của những chuyên gia nói dối và bịa đặt!

Còn các ông tuyên huấn? Chắc chắn
không! Vì cái lối “nói dzậy chứ không phải dzậy” là công việc, là
nhiệm vụ, là lẽ sống của các ông Goebbels
([19])
Việt Nam từ lâu rồi! Việc này giới văn nghệ miền Bắc ít biết là có
lý do của nó. Người ta dìm nó xuống càng sâu càng tốt.

Đó là cách làm thường thấy của mấy
ông “lãnh tụ” miền Nam để bảo vệ nhau khỏi cái nhìn hẹp hòi, đao to
búa lớn của mấy ông “lãnh tụ” miền Bắc. Ở đây, thực chất của vấn đề
là các vị “lãnh tụ” miền Nam không muốn “mấy cha” giáo điều Lê Đức
Thọ, Trường Chinh…“xía dzô” nội bộ của của họ để có thể tọa hưởng
kỳ thành trên cái “vương quốc Sài Gòn” mới chiếm được.

Những chuyện “đừng vạch áo cho người
(miền Bắc) xem lưng” xảy ra trong mọi lãnh vực, nhất là qua các vụ
chia chác quyền lợi, cướp bóc “chiến lợi phẩm”, các vụ ăn chơi trác
táng, chiếm nhà, đoạt vợ.., nếu có “lộ tẩy” đều là do các cán bộ Bắc
Kỳ tố cáo, hoặc do cán bộ Miền Nam “gài độ” nhau để giành ghế mà
thôi!

Cú đánh trả tất yếu phải được tung
ra, điển hình là vụ “Đường Sơn Quán”. Cái quán này thực chất là một
ổ điếm, điểm ăn chơi của các quan chức giàu có. Hàng loạt cán bộ
“tăng cường” được đưa từ miền Bắc vào lần đầu tiên bị bêu riếu công
khai cả tên tuổi lẫn chức vụ trên báo chí, rồi bị đưa ra toà! Không
hiểu vì lẽ gì mà trong những tấm ảnh “chết người” được in trên trang
nhất các báo người ta đã che mặt cho người đẹp Diễm My, ngôi sao “số
dzách” của miền Nam thời ấy? Theo lời đồn thì có thể cô là vợ bé hay
bồ nhí của nhà buôn danh tiếng Triệu Bỉnh Thiệt còn đang được dùng
cho những thương vụ xuất nhập khẩu với Hồng Kông, mà cũng có thể cô
ta còn có quan hệ với anh Năm anh Bảy nào đó nên được các anh che
chở. Hậu quả là sau vụ ra tay…diệt nhau đó, hàng loạt “đồng chí”
đã bị thanh trừng. Có anh phó giám đốc vận tải xăng dầu lãnh án 12
năm, có anh làm đến trưởng phòng điều tra xét hỏi của Công An thành
phố cũng vào tù theo, con gái nhục quá đã tự tử!

Trong khi đó, ở các biệt thự kín cổng
cao tường, trên các khách sạn nhiều tầng, hàng loạt cuộc “vui chơi
báo thù” của mấy ông cán bộ “Rờ”, cán bộ “Miền” và anh chị em mới
hoà hợp (tại chỗ), diễn ra liên tục, từ tối đến sáng và từ sáng đến
tối! Chẳng thế mà nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu
([20])
đã lè nhè hát
“Mỗi ngày tôi nhậu một lần thôi… nhậu từ sáng đến tối…”

xuyên tạc lời một bài ca của Trịnh Công Sơn để mỉa mai mấy ông cách
mạng… “thích đủ thứ” này!

Tôi hết hồn khi mấy anh em nhạc công
“tại chỗ” mời tới dự buổi chiêu đãi tại một nhà hàng trên đường Trần
Hưng Đạo. Ngoài những suối rượu, suối bia, gọi là màn A thì sau
B,C,D,Đ,E… không thể thiếu được là màn Z! Chính cái tiết mục Z..
“con heo” này, được hướng dẫn bởi một máy chiếu phim 8 ly, mới là
cái mê mẩn nhất của mấy ông cách mạng mà vợ đã “quá đát” từ lâu! Cái
“hay” của mấy anh miền Nam “hư thân mất nết thứ thiệt” là ở chỗ, tất
cả đều…“lòng vả cũng như lòng sung” nên không ai tố cáo ai. Còn
mấy anh miền Bắc thì…do “hám của lạ” nên rất dễ bị gài độ, bị làm
xăng-ta, và khi cần thiết, chỉ cần một cú đẩy nhẹ là… ngã ngựa!

Cần phải nói tới hàng ngàn “cán bộ
tăng cường” vào một ngày đẹp trời bỗng nhiên được lệnh…“trở về
Trung ương” –– thật ra là… đuổi khéo về Bắc –– nhất là sau ngày
vội vã thống nhất đất nước, giải tán Chính Phủ Lâm Thời Cộng Hòa
Miền Nam Việt Nam! Rốt cuộc ở lại Sài Gòn chỉ có những người miền
Nam chính cống với tư tưởng và sinh hoạt “phóng khoáng”, với “tinh
thần yêu thương đoàn kết” không hại nhau, không tố nhau và biết…
chia chung miếng ăn, ghế ngồi. Vả lại, với chiến lợi phẩm ê hề của
cuộc chiến thắng thì làm thế sẽ bớt phần phải chia chác!

Chỉ riêng chuyện Trung Ương cần phải
có trụ sở thứ hai ở miền Nam hay không đã nổ ra một cuộc đấu tranh
không kém ầm ĩ ở ngay cái cơ quan nhỏ bé của tôi. Người ta bỗng nhận
ra toàn bộ nhà xuất bản Giả…i Phóng này đều là 100% “đồ Bắc nhập”
ở giờ thứ 25, mặc dầu lẫn vào đấy cũng có vài chú bé học sinh miền
Nam mới lớn!

Thế là số phận của nó được định đoạt:
“Giải tán, trả về bộ Văn Hoá”! Tuy nhiên, nếu ở các ngành khác việc
giải tán hoặc sáp nhập diễn ra dễ dàng và đơn giản thì ở ngành văn
hoá văn nghệ công việc không chiều theo ý muốn chủ quan của những vị
muốn tống cổ hết dân Bắc Kỳ về Bắc. Ông Bảo Định Giang tuyên bố
“trục xuất” hoạ sĩ Lưu Công Nhân giữa cuộc họp thành lập Hội Mỹ
Thuật thành phố HCM khi họa sĩ “coi trời bằng vung” này dám lên
tiếng chất vấn “vì sao ông này luôn có mặt hết sức vô duyên”
ở các cuộc họp của bất cứ ngành văn học nghệ thuật nào? Một cú đánh
thẳng mặt vào sự “lãnh đạo toàn diện” của “Đảng miền Nam” mà đại
diện lăng xăng nhất chính là ông Bảo Định Giang.

Kết quả là Lưu Công Nhân được anh em
hai miền, cả cách mạng cũng như “tại chỗ” hoan nghênh nhiệt liệt!
Cuối cùng, Lưu Công Nhân vẫn “được” ở lại, vẫn tiếp tục sáng tác,
triển lãm… chẳng cần sự lãnh đạo của ai, ngoài của bà…xã!
Khá nhiều người có chức, có quyền trong giới văn học nghệ thuật nhận
thức “nếu không có những người như Lưu Công Nhân, lấy ai mà làm cánh
tay phải, tay trái khi tiếp xúc với những Nguyễn Trung, với Rừng
([21])?
Vậy, nếu đuổi hết về Bắc thì mấy ông “trót” bị giao lãnh đạo văn
nghệ biết nói gì khi anh em “tại chỗ” hỏi về tác phẩm, về khuynh
hướng, về trường phái, thậm chí cả về chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ
nghĩa?

Chính điểm yếu nhất của những vị
quanh năm ăn theo, nói leo, nói vớt, cùng các văn nghệ sĩ Rờ quanh
năm ăn đói, mặc rách, viết “lách” kiểu Hòn Đất của Anh Đức
([22]),
ít có điều kiện học hành, thăng hoa trong nghề nghiệp đã là lý do để
một số văn nghệ sĩ Bắc Cờ, hoặc “Bắc Cờ hóa” được giữ lại giúp các
vị i-tờ, trực diện với một nền văn nghệ mà…càng đấu tranh càng
thấy mình… thua chắc!

Nhưng cũng chính ở điểm này, sự đầu
hàng trước “nghệ thuật phi chiến tranh” đã bắt đầu nẩy sinh để đi
đến chỗ… đầu hàng thực sự! Câu nói của Lương Ngọc Trác khi sống
những ngày đầu trong hoà bình năm xưa lại vang lên trong tôi, chỉ
cần sửa lại đôi chút: “Nền ca khúc muốn tồn tại ở cái môi trường
mới này không còn con đường nào khác là phải đi vào…nhạc nhẹ!”

Mặt khác, phải cố gắng nuôi mầm cho một nền âm nhạc bác học, dù hết
sức khó khăn. Chính nhờ sự giằng co về đường lối này, những người
như Tô Vũ, Nguyễn Văn Tý, Lưu Công Nhân, như tôi được tiếp tục sống
và làm việc ở Sài Gòn “giải phóng”… để rồi… chịu cảnh… thua
trận cuối cùng!

Như trên đã nói, cái ảo tưởng về cuộc
sống tự do, không lo ai cắt sinh hoạt phí, cắt phiếu, tem thịt, sổ
gạo… của tôi biến thành mây khói theo gia đình tôi sang… Huê Kỳ.
Thế mà, rốt cuộc tôi không phải “kéo cờ trắng về Bắc” như rất nhiều
anh em khác, mà được…“giữ lại” để:

–– 1/ Tiến hành ngay việc thu thanh
một số bài ca, bản nhạc để có cái thay thế những gì đã cấm và tịch
thu… (Nằm mơ giữa ban ngày, vì sau này, những gì cấm và tịch thu
cứ dần dần được phép trở lại và thống lãnh thị trường lúc nào không
hay).

–– 2/ Mở ngay những lớp nhạc, sáng
tác, hoà thanh … cho số anh em trẻ để họ có thể thay thế dần những
đàn anh đã ra đi và sẽ cho đi (nhưng phải nạp “cây” mua bãi cho công
an và “các anh”) những ngày sắp tới!

Và… tôi lại lao vào làm anh Don
Quichotte!
([23])

Gần một năm trời, theo gợi ý và cả
các quyết định rất cụ thể, tôi một mình đứng ra tập hợp anh em, ca
sĩ, nhạc công thu tới 9 cuốn băng cối gồm bài hát của các nhạc sĩ
cách mạng với niềm tin không gì lay chuyển nổi là “tất cả chỉ là
chuyện dã tràng xe cát.” Câu hỏi được đặt ra với tôi từ gần 20 năm
chuyên thu thanh, in đĩa (33 và 45 vòng) ở miền Bắc là “thu để bán
cho ai”, lần này lại được đặt ra, gay gắt hơn, khó giải đáp hơn?

Ở miền Bắc, trước đó, máy ghi âm là
dụng cụ xa xỉ, thậm chí còn phải có “giấy đăng ký” (vì có bóng điện
tử!), người mua rất hiếm. Nhưng do yêu cầu tuyên truyền, đặc biệt vì
mọi chi phí sản xuất đều được “bao cấp”, chẳng cần tính toán lỗ
lãi…nên cứ đều đều mỗi năm ra lò dăm bảy đĩa với số tirage khiêm
nhường do các hãng Melodia (Liên Xô), Supraphon (Tiệp Khắc) in “cho
không”.

Lần này là sự đối mặt với một thị
trường “thực dân mới”(!), từ nông thôn đến thành thị, từ miền xuôi
đến miền núi, từ nhà giàu đến nhà nghèo, cái máy cassette, dàn máy
Teac, Akai…ai ai cũng có, tới mức bão hoà. Kèm theo đó là hàng
triệu cuốn băng đủ loại đang còn sống “chui” trong các nhà tư, các
quán giải khát, các nhà hàng…, nhất là trong trái tim của nhân dân
miền Nam đã sống với nó, ăn, ngủ với nó quá lâu rồi. Vậy thì quẳng
ra mấy cuốn băng nhạc cách mạng liệu chúng có…chết chìm ngay tắp
lự? Hơn nữa, sẽ thu những gì đây? Ai hát? Ai đàn? Thu theo phong
cách nào? Ấy là chưa kể cái nhà xuất bản Âm Nhạc Giải Phóng (tách ra
từ nhà xuất bản Giải Phóng) chỉ độc có… hai người: Hoàng Hiệp và
tôi, trong tay chẳng có một đồng vốn.

Thế là “kinh tế hai thành phần” ra
đời, chẳng đợi trung ương Đảng kêu gọi. Một nhà “tư sản yêu nước”,
bà Sáu Liên, “cơ sở” cũ của ông Tư Ánh Trần Bạch Đằng hăng hái bỏ
tiền, bỏ sức ra để chúng tôi lao vào cuộc chiến âm nhạc một
cách…“cho có” này.

Cái khó đầu tiên là thu cái gì? Rõ
ràng những cuốn băng cách mạng sẽ không có “đầu ra” nếu lại thu
Bão Nổi Lên Rồi, Sài Gòn Quật Khởi, Tiến Về Sài Gòn, Phải Giết Lũ
Giặc Mỹ
..! Thế là một cuộc rà soát theo thứ tự alphabet các ông
tác giả miền Bắc và miền Nam (Rờ) xem ai có cái gì…“nhè nhẹ” chút
ít không? Đến đây, mới lòi ra cái tử huyệt của mấy ông nhạc sĩ cách
mạng: Ông nào cũng chỉ có mấy bức “tranh cổ động bằng âm thanh” là
hết. Liệu có ai chịu bỏ tiền ra mua chúng để thưởng thức trong nhà
riêng, phòng riêng của mình, dù tranh cổ động của mấy ông có nghệ
thuật cao siêu đến mấy.

Chín cuốn băng do chính tôi biên tập,
tổ chức thu thanh, phối âm, phối khí cùng một số anh em “tại chỗ”
như Duy Hải, Y Vân, đặc biệt là Thanh Tùng, lần lượt ra đời… không
một tiếng vang, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Thay thế vào những băng nhạc với các
giọng ca Thái Thanh, Thanh Lan, Chế Linh…(vì sợ các ông “ba mươi”
cướp mất dàn máy với lý do hát nhạc Ngụy!), đâu đâu cũng chỉ nghe
thấy những băng nhạc ngoại quốc của các nhóm pop–rock thời thượng,
các băng nhạc không lời của Paul Mauriat, Richard Clayderman. Tuyệt
đối không thấy trong một quán cà phê, một tiệm ăn hoặc trong các gia
đình (kể cả các gia đình cách mạng) vang lên những Tiếng Đàn Ta
Lư, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây
hoặc Từ thành phố này
Người đã ra đi
(dù đã được “nhẹ hóa” rất nhiều)! Tuy vậy, những
đại lý của bà Sáu Liên, nhà tư sản chủ hãng Asia xưa, ủng hộ việc in
băng nhạc cách mạng bằng số băng còn tồn kho, đều báo cáo: Đã bán
sạch
! Thì ra, với cách “bán như cho”, người ta tranh nhau mua để
mang về in lên các thứ nhạc mà người ta yêu thích!

Trong khi đó, một số lượng nho nhỏ
gởi ra miền Bắc lập tức vấp phải phản ứng không thuận lợi, thậm chí
có vị có quyền còn phán những câu chết người: “Lại ăn phải bả tư
sản, thực dân mới.”
Tệ hại hơn, không ít vị cho là “

Hải lại quay về với Nụ Cười Sơn Cước, lại rơi vào con đường nhạc tắc
xình của dân… ngụy.”

Xuất phát những ý kiến phản đối băng
“nhạc giải phóng” này chủ yếu từ hai nguồn:

–– 1/ Từ những vị tìm mãi không ra
bài nào hợp với loại hình thu “băng để thưởng thức” (chứ không phải
để phát ra chỗ công cộng!) nên các vị tự ái vì thiếu tên mình trên
nhãn băng. Cả các vị mà tôi rất kính nể, đào bới mãi cũng chẳng tìm
ra bài nào tương đối nhè nhẹ, ít chất hò hét, tiến lên, bắn, bắn,
giết, giết cả! Điển hình như Đỗ Nhuận, Nguyễn Xuân Khoát, Lưu Hữu
Phước, Trọng Bằng, Trọng Loan, Đàm Linh, Nguyễn Đình Tấn… (những
vị mà tiếng nói lúc bấy giờ trọng lượng đến cả ngàn cân!), Sau khi
trao đi đổi lại, cuối cùng đành… xin lỗi các vị vậy! (lúc ấy mà
những bài hát của Văn Cao, Đoàn Chuẩn… được phép phổ biến như bây
giờ thì đẹp mặt cho Cách Mạng biết bao)!

Mặt khác, hoàn cảnh Sài Gòn những năm
1975-1980, bới đâu ra một dàn nhạc có đủ gỗ, đồng, dây, gõ, bới đâu
ra một ban đồng ca có thể thu được các hợp xướng lớn của Đỗ Nhuận,
Lưu Hữu Phước, giao hưởng, concerto của Hoàng Vân, Chu Minh, Đàm
Linh, Ca Lê Thuần? Thêm nữa, các phòng thu thanh ở Sài Gòn lúc ấy
đều thiết kế cho một dàn nhạc nhẹ 5, 7 cây đàn và một ca sĩ đơn ca
là vừa chặt cứng! (Âm nhạc chỉ là đơn ca, diễn ra cho tới những năm
cuối thế kỷ 20, khi tôi đang viết những trang hồi ký này). Sự xúc
phạm bắt buộc tới vô số vị chuyên làm các bức sơn mài lớn (giao
hưởng, opera… ) và các vị chỉ vẽ tranh cổ động (thợ vẽ âm nhạc) đã
làm các vị lên án và không chấp nhận các băng nhạc do tôi chủ trì là
dễ hiểu. Tuy nhiên các vị không để ý là chính bản thân tôi, một tay
chuyên vẽ tranh cổ động bằng âm nhạc, đã đoạt nhiều giải về thể loại
phục vụ kịp thời cũng không hề có bài nào trong cả chín cuốn băng do
chính tôi làm ra!

–– 2/ Phản ánh mạnh nhất, vô tư nhất
chính là sự mâu thuẩn muôn đời về cái…Đẹp. Số là để tiến hành thu
thanh kịp thời, một vấn đề lớn được đặt lên bàn: Ai sẽ thu đây? Bên
cạnh các ca sĩ cách mạng, đảng viên như Quốc Hương, Tô Lan Phương,
một số ca sĩ “tại chỗ” có được hát không? Liệu có mắc “tội” mất lập
trường đề cao kẻ có quá khứ chống phá cách mạng không? Vấn đề cứ
được bàn lên cãi xuống, thậm chí bộ trưởng Lưu Hữu Phước cũng chẳng
dám quyết và sau này được biết ông còn cử người sang hỏi cả bên bộ
Công An. Cuối cùng, chúng tôi chọn giải pháp: cứ dùng các nhạc công
tại chỗ vì không có tên ghi ngoài bìa còn ca sĩ thì theo bên sân
khấu và điện ảnh (trừ cải lương) là thay tên đi! Ví dụ Thanh Lan
thành Lan Thanh, Lệ Thu thành…Lệ Xuân, Lệ Hè…chẳng hạn.

Tôi còn nhớ cái đau vô hạn của ngày
20 tháng 7 năm 1975, khi tôi cùng hai “nghệ sĩ cách mạng” vào
loại… chịu chơi là Hoàng Mãnh (có ông bố tiếng tăm ở miền Nam là
Võ Đức Thu) và Quốc Hương (có tác phong rất…Tây do mấy năm du học
và…ăn chơi ở Hungari, Tiệp Khắc…) đến nhà riêng của Thanh Lan và
Lệ Thu để mời họ ra thu thanh phục vụ cách mạng. Dù chúng tôi đi
trên chiếc xe khá sang trọng của một viên tướng hải quân vứt lại, dù
tôi và Quốc Hương đều ăn mặc khá là…chim cò, ria mép kiểu Clark
Gable
([24]),
thế mà họ đón tiếp chúng tôi chẳng mấy lịch sự.

Sau khi cho chúng tôi ngồi chơi xơi nước cả tiếng
đồng hồ, các siêu sao miền Nam mới thướt tha trong các tấm áo…ngủ hạ
cố ra chào. Sau đó là mấy câu xin lỗi “không có hẹn trước”… vì các
“sao” còn ngủ, vì mắc chuẩn bị vệ sinh, trang điểm…nên để các ông
phải chờ. Và khi biết được “thiện ý” của chúng tôi, họ đều… xin
chào thua một cách rất kiêu kỳ và khiêm tốn: “Chúng tôi sợ không
hát nổi những bài hát của cách mạng vì… nó… “cao” quá.”
Cao
ở đây vừa có ý nghĩa “cao siêu” về nội dung vừa cao về…  cao
độ trong… âm nhạc! Nhất là khi phải nói đến chuyện rất khó nói là
đổi tên thì lập tức, họ phản ứng ra mặt bằng cách từ chối thẳng
thừng!

Thế là chuyện thu thanh các “ngôi sao” tại chỗ không
thành và cũng là điều may cho chúng tôi vì tránh khỏi bị ỉ eo phê
phán “khỉ vặt lông khỉ” sau này, khi các “sao” cứ biến dần trên vòm
trời tổ quốc! Để khỏi rách việc, chúng tôi xử dụng các ca sĩ cách
mạng vì còn phải chụp ảnh, in bìa. Còn lại, nhạc công bất kể từ
nguồn nào đều được mời tham gia!

Tuy nhiên, chúng tôi lại vấp những khó khăn mới: Hầu
hết trong số họ dù nổi tiếng ở miền Nam nhưng không bao giờ đánh
nhạc theo tổng phổ! Tất cả đều “cương” một cách rất tài tình, nghĩa
là sau khi thống nhất với ca sĩ hát ở “ton” gì, và thống nhất với
nhau đánh theo nhịp điệu gì, Blue, Rock, hay “xập xun” Shufle-Soul…
là ấn một nút trên đàn Organ, Bass cứ thế mà nện theo các chữ
C,D,E,F… do một “xếp sòng” đã ghi ngay tại chỗ! Chúng tôi phải
thay thế các tay đàn “anh chị” nhưng không quen “đánh nhạc nhìn bài”
bằng những cây đàn loại “xoàng” hơn nhưng biết đánh theo những gì
tác giả ghi trên giấy.

Thanh Tùng, Lê Yên ([25])

tôi viết với nhiều ý đồ tìm tòi nghệ thuật cực kỳ trong sáng. Chúng
tôi cố đưa học thuật vào thể loại nhạc nhẹ (dân tộc, hiện đại) và
trước mắt là “nhẹ hóa” những bài hát cách mạng. “Tài béo” chơi
Violon, nhưng có biết guitare chuyển sang chơi guitare, Tấn Lộc (sau
này là giáo sư tiến sĩ phó giám đốc Sở Văn Hóa) chơi Bass vì tốt
nghiệp contrebass ở Liên Xô, Võ Đức Xuân, Võ Đức Quý (Hoàng Mãnh)
nhận phần piano và organ, Hữu Bích violon… Chúng tôi đêm ngày lao
vào thực hiện những công việc chưa từng có trong sinh hoạt âm nhạc
Vịêt Nam. Chúng tôi ăn ngủ và làm việc ngay tại phòng thu 47, 78 Võ
Di Nguy (nay là Hồ Tùng Mậu) một cách say sưa, như những người “đi
tiên phong” trong âm nhạc “cách mạng” nhưng có tiết tấu và đánh theo
các nhịp điệu đang phổ biến trên thế giới. Trong các bản phối khí,
chúng tôi đã đề cao ý thức: Giai điệu phải dân tộc, hoà thanh phải
tránh khỏi lối mòn T,S,D,T, dàn nhạc phải thay đổi màu sắc, thay cả
biên chế  — lần đầu tôi đã dùng đàn bầu đánh chung với dàn nhạc
điện tử…

Vậy mà… người ta vẫn dè bỉu, vẫn phản đối, thậm chí
còn gọi là “lính Việt Cộng mặc quần áo rằn ri ngụy!” rồi yêu
cầu ngừng thu thanh những thứ “xuyên tạc âm nhạc cách mạng”!?

Cùng lúc, tại đài truyền hình miền Bắc, ông Trần Lâm
cương quyết xoá bỏ một chương trình của các em thiếu nhi Xè Gòn hát
những bài hát cách mạng do Bích Hằng, Thùy Vân quay cả tháng ở miền
Nam. Lý do: Các cháu lắc lư, ngoe nguẩy bạo quá! Nhạc đánh…giật
gân quá!

Thế mới biết làm ra các món ăn tinh thần này khó gấp
ngàn lần làm ra các món thịt bò bảy món, lẩu dê, bò lúc lắc mà miền
Bắc chấp nhận nhanh như chớp! Nói cho ngay, các thể nghiệm bước đầu
đó chưa có gì thật đáng ghi nhận, nhưng cũng chẳng ai, kể cả anh
chàng Thanh Tùng vốn có nhận thức cởi mở nhất về âm nhạc, lại muốn
“mặc áo lính ngụy” cho anh lính Việt Cộng bao giờ. Nếu chưa hay đó
là do lực bất tòng tâm, do ý đồ nhẹ hóa chưa trúng, do nội dung các
bài hát dù đã chọn lựa kỹ càng cho việc dễ nhẹ hoá vẫn cứ lúng túng
không mặc nổi cái áo nhạc nhẹ mà thôi. Chính bản thân tôi, sau này
ngồi nghe lại cũng thấy nó quê mùa và sống xít! Tôi lại nghĩ tới ảo
tưởng “giao hưởng hoá nhạc jazz” đã bị thất bại và bị lên án những
thập kỷ 1930,1940 ra sao. Rồi tới những năm 1960-1970-1980 thì 4, 5
cây đàn điện tử và một người hát Rock-Pop đã đòi hỏi một nội dung và
hình thức bài hát phù hợp với nó thế nào, đòi hỏi phải biểu diễn ở
địa điểm nào, cho đối tượng nào là đúng nhất. Câu hát “Lũ xâm
lăng vào đây! Chờ bọn bay, diệt bọn bay”
trong Cô Gái Vót
Chông
(Hoàng Hiệp), không thể nằm trong cái “áo” vui nhộn, nhảy
nhót của Rock’n’Roll được. Chưa kể những tìm tòi, sáng tạo về hoà
thanh, âm sắc của Lê Yên đôi khi nghe cũng “khó nuốt” do chuyển điệu
không chuẩn bị sau một loạt hợp âm nghịch để quên điệu thức vừa
dùng…

Các băng nhạc của nhà xuất bản Giải Phóng, công sức
lao động của tôi và một số anh em, như thế, sống được ít bữa trên
phát thanh, truyền hình của Nhà Nước, trước những lời khen chê thậm
chí phủ nhận, với đủ loại động cơ, cuối cùng đến lúc… chấm hết!
Không phải quyết định ngừng xuất bản của ban, của bộ nào, mà là của
bà… Sáu Liên, người bỏ tiền ra mua băng, thuê phòng thu.

Giữa năm 1976, bà báo động là băng giải phóng
bán…“quá chạy” đến nỗi không mua đâu ra băng trắng để thu nữa!
Nguy cơ phải đình chỉ thu băng đang cận kề nếu không cử người đi
Singapore mua kịp thời! Bà cho biết mặc dầu băng bán ra bị xóa đi
thu cái khác nhưng nếu Nhà Nước cho bà rút tiền đô-la mà bà gửi Ngân
Hàng Thương Tín (từ thời “ngụy”) ra thì…có lỗ bà cũng tiếp tục ủng
hộ âm nhạc cách mạng đến cùng. Một chuyện mà có trời cũng chẳng dám
giải quyết! Cuối cùng là… dẹp tiệm, không kèn không trống, sau
cuốn băng số 9. Đó là băng “nhạc nhẹ không lời” chuyển thể từ những
ca khúc có chút ít giai điệu, có chút ít tiết tấu. Băng này chúng
tôi chẳng hề gặp lại, chẳng còn được nghe nó bao giờ, ngoài đài phát
thanh tivi xử dụng nó để… chuyển mục trong ít năm!

Đến nay, tôi vẫn giữ mãi kỷ niệm không quên của những
con tim nhiệt tình muốn làm một cái gì đó để chiếm lãnh tình yêu âm
nhạc của đồng bào Sài Gòn mới “giải phóng”. Trong lúc người ta ùa
nhau đi kiếm chác nhà cửa, xe cộ, thậm chí cả bồ bịch, chơi bời, ăn
nhậu… thì một lũ ngu đần ngày đêm nhốt mình trong phòng thu để làm
nghệ thuật, một thứ nghệ thuật mà biết trước sẽ bị vứt vào sọt rác.
Hình ảnh Lê Yên gầy còm thức cả đêm bên cây đàn piano của người bạn
trong một ngõ hẻm trên đường Duy Tân tìm tòi “một cái gì đó” cho
những bản anh phối khí, hình ảnh những Hoàng Mãnh, Trần Mùi, Quốc
Hương, Tô Lan Phương, Thanh Tùng (sau này thành tỷ phú nhưng không
do âm nhạc), sau các buổi thu thanh lọ mọ leo lên các “chuồng chim”
được phân phối trong các bin-đinh tận lầu 6, lầu 8 với khoản thù lao
vừa đủ ăn một bát mì vằn thắn, với tôi, vẫn là những hình ảnh trong
sáng, những tấm gương “tất cả vì nghệ thuật” đẹp nhất. Một số, đến
khi qua đời, vẫn ở các chuồng chim xuống cấp, vẫn chẳng bao giờ biết
cái Honda nó ra sao như Quốc Hương, thậm chí phải đi ở nhờ một người
chị dâu vì bà mẹ đuổi do không “chuộc” nổi anh rể mình ở trại cải
tạo về như Hoàng Mãnh!

Còn những anh em “tại chỗ” cộng tác cùng tôi thì hôm
nay… không còn một người ở lại Việt Nam. Họ đều muốn “lấy điểm”
với cách mạng nên sẵn sàng lấy đàn, lấy trống, lấy kèn riêng của
mình đi thu thanh phục vụ với ước mong sẽ được tiếp tục hành nghề.
Vậy mà, tất cả đã thành thất nghiệp, đứng chợ trời và sau cùng là…
vượt biên sạch sành sanh! Được biết một số trong những anh em đó
sang đến nước người còn bị phân biệt đối xử vì trót “ôm chân cách
mạng” đành bỏ nghề vĩnh viễn! Đó là các anh Xuân (organ), Lý (bass),
Thoại (trống), Lạc (guitare) An (saxo), Phi Long (trompette)… Giờ
này, các anh ở đâu? Hãy cho tôi được một lần nữa, gửi tới các anh
lời cảm phục và tiếc nuối về việc không cách gì giữ chân các anh
được ngoài tấm lòng yêu mến các anh.

Thế là, ảo tưởng thứ hai của tôi…tan thành mây
khói! Chỉ còn một cách cuốn gói về miền Bắc, nhất là cái “Nhà xuất
bản Âm Nhạc Giải Phóng” do ông Hoàng Hiệp đấu tranh để “ra ở riêng”,
tách khỏi Nhà xuất bản Giải Phóng của ông Hà Mậu Nhai chẳng còn việc
gì để làm, để tồn tại. Ông giám đốc Hoàng Hiệp may mắn được “cơ cấu”
vào “Hội Âm Nhạc” riêng cuả miền Nam. Còn một nhân viên nữa là tôi,
dân Bắc Kỳ lạc loài bây giờ biết đi đâu, về đâu?

Một lần nữa, tôi lại gặp may. Giám đốc Hà Mậu Nhai
vận động tôi về nhà xuất bản…Văn Học Giải Phóng. Ông cam đoan là
văn học dịch sẽ đủ chỗ cho tôi phát huy tiềm năng sẵn có, ngoài ra
tôi vẫn cứ tiếp tục “làm” âm nhạc thoải mái, chẳng lo trách nhiệm
với ai!

Không thể phủ nhận sự ưu ái của Hà Mậu Nhai đối với
tôi do biết học lực của tôi từ thời chúng tôi còn đi học chữ Tây
chung một trường. Nhưng không thể không nói tới một sai lầm to lớn
của ông là quá tin tưởng vào sức mạnh của “phe” bảo vệ ông, giúp ông
tồn tại trên cương vị giám đốc cuối cùng của một cơ quan “bà đỡ các
tác phẩm văn học nghệ thuật” miền Nam, một nhiệm vụ ông từng thất
bại nhiều lần trong các cương vị tương tự ở miền Bắc.

Tôi nhìn thấy cả hai mặt của vấn đề nhưng ông cứ lộc
cộc chạy lên chạy xuống anh Bảy, anh Tám, anh Năm, anh Tư, anh Sáu
với một niềm tin lạc quan… ngây thơ đến tội nghiệp. Mọi sự chấm
dứt cùng với cuộc tổng tuyển cử thống nhất nước nhà mà nội dung là
cuộc thâu tóm lại quyền hành đã bị mấy ông miền, ông Rờ đang đi quá
xa trong việc điều hành, không theo ý muốn của anh Duẩn, anh Thọ.
Những ban bệ của miền Nam nghiễm nhiên trở thành bất lực và bị vô
hiệu hoá. Đó là ngày mà hầu hết cán bộ Trung Ương Cục Miền Nam bị
điều về Trung Ương để nhận nhiệm vụ mới. Số được cho ở lại trở thành
thành ủy, thành sở nọ, sở kia của Sài Gòn, tất cả đều do Ban Tổ Chức
Trung Ương quyết định.

Thế là diễn ra những cuộc chạy đua để được ở lại,
được khỏi “bị” thăng chức, thậm chí “xin được giáng chức” một
cách…tức cười. Người ta sẵn sàng chối bỏ cái ghế cao hơn, to hơn
như Trung Ương, như Bộ, Cục…để chỉ nhận một chức giám đốc thậm chí
trưởng, phó phòng ở Sài Gòn. Lý thuyết “đuôi rồng” tốt hơn “đầu gà”
một lần nữa chứng tỏ sự có lý của nó. Nhất là trong cái “đuôi rồng”
lại là những quyền lợi vật chất như nhà cửa, xe cộ, tiền, vàng chiếm
được, là cả một lô gia đình, vợ cả (miền Bắc), vợ bé (miền Nam), bồ
nhí… họ hàng, hang hốc đang tụ tập quanh mình, làm sao có thể tiếp
tục “thoát ly” lần nữa! Tôi biết một ông “bị” trúng vào Ban chấp
hành Trung Ương, nhưng xin nghỉ hưu vì… sức khoẻ kém là trường hợp
ông Trần Bạch Đằng! Tôi cũng được biết hàng loạt cán bộ “có cỡ” được
điều về bộ, đề bạt các chức danh cục trưởng, vụ trưởng, thậm chí đến
thứ trưởng, bộ trưởng… nhưng đều xin ở lại vì đã quá rõ cái ngón
đòn “đá lên trên” của “mấy anh” khi muốn… “dụ hổ ra khỏi rừng”!
Một số khác thì đấu tranh để có một… “phân bộ” thường trực ở miền
Nam, khi biết mình sẽ không có chỗ đứng, khi Sài Gòn chỉ còn là
thành phố riêng của một phe cánh! Trong quá trình sắp xếp lại tổ
chức một cách… vô tổ chức này, có biết bao nhiêu kẻ bỗng dưng lên
xe mà muốn… khóc, còn kẻ xuống chó lại cười hi hi! Và, trong cuộc
đấu tranh giành quyền lợi, chia nhau của cải, ghế ngồi, không biết
bao nhiêu tên cơ hội đã chiếm được số lượng khổng lồ “chiến lợi
phẩm” đến mức con cháu ăn tiêu phè phỡn mấy đời cũng không hết!

Tuy nhiên cũng có một số do vụng đường tu, không biết
cách ăn ở cho phải đạo, ăn mảnh, ăn vụng không biết chùi mép, dần
dần bị bẻ hết móng vuốt, chui vào cái bẫy của đối thủ cao tay hơn
để…vào tù! Các kiểu đòn ngầm, đòn độc, đòn đánh một cú chết
tươi… chưa bao giờ diễn ra ác liệt như những ngày “quơ cả giang
san về một mối”!

Với giới văn hóa văn nghệ, việc chia ngôi vị trong
cuộc “xuống cấp bắt buộc” này diễn ra có phần êm ả nhưng không
kém…bi hài! Bộ trưởng Lưu Hữu Phước, một nhân vật tên tuổi và
nhiều công trạng, đành chấp nhận cái ghế của một cơ quan tự ông
“nặn” ra là “Viện Nghiên Cứu Âm Nhạc Thành Phố Hồ Chí Minh” trực
thuộc Viện Nghiên Cứu Âm Nhạc Trung Ương, một cơ quan đã có đầy đủ,
thậm chí thừa viện trưởng, viện phó, viện sĩ ở Hà Nội! Chẳng lẽ lại
là… “Phòng Nghiên Cứu Âm Nhạc” để rồi trực thuộc… sở Văn Hoá của
ông Dương Đình Thảo hay sao? Trường hợp “Trường Quốc Gia Âm Nhạc”,
trong tay toàn những anh có bằng cấp từ Liên Xô mới về, dân miền Nam
cả đấy nhưng phải cái “tội” chẳng một ngày có mặt ở Rờ… cũng “tình
nguyện” được trực thuộc Bộ Văn Hoá và cũng tự đặt tên là “Viện Âm
Nhạc” luôn!

Cả nước lúc này có đến 5 cái viện âm nhạc!

Sự sắp xếp lại các tổ chức văn học nghệ thuật khác
diễn ra khá êm xuôi. Đứng đầu giới văn thơ chẳng ai có thể hơn hai
ông Anh Đức, Nguyễn Quang Sáng. Đứng đầu giới nhạc sĩ đố ai dám phủ
nhận ông Xuân Hồng! Hội điện ảnh đã có các ông Mai Lộc, Hồng Sến…Rặt
các vị ở Rờ về, đầy đủ tài năng, tên tuổi, thành tích, nhất là có
thừa khả năng “hoà hợp” với anh chị em “tại chỗ”.

Hàng loạt các vị miền Nam chính gốc hoặc Rờ chính gốc
nhưng là dân Bắc Cờ, thì tự nguyện rút lui để củng cố gia đình, thu
vén cho tương lai, “trả thù cái quá khứ quá gian khổ”, hoặc tự
nguyện trở về miền Bắc! Nhiều vị đau quá phát khóc, ra tận trung
ương cầu cứu hoặc tố cáo cái sự quá đà, à uôm của cơ cấu văn nghệ
Sài Gòn…

Thương tình các vị này không có chỗ, người ta đặt
thêm một tổ chức ngang hàng và trùng tên với trung ương là “Hội Liên
Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh” dành cho các vị
“ở thì…bi mà đi thì…nhục”.

Riêng giới nhạc, người ta không tin ai, không biết
giao nhiệm vụ lãnh đạo cho ai thật sự có uy tín sau hai vị Xuân Hồng
và Hoàng Hiệp…nên tăng cường một nhà thơ. Đó là nhà thơ nhạc sĩ
Diệp Minh Tuyền. Để trang hoàng cho cái bề mặt đoàn kết của Hội,
người ta gọi về một “tên tuổi lớn” lúc này đã bỏ Sài Gòn về quê là
Trịnh Công Sơn. Thêm một vị có đi Tây (Pháp) học nhạc, biết đánh
piano (kẻo ai dùng chiếc Yamaha M.I đặt ở trụ sở?) là Phạm Trọng Cầu
đang ở biên chế trường nhạc “ngụy”. Bộ năm này đủ sức tồn tại cho
đến ngày bốn vị lần lượt… qua đời và một vị… bị trời hành,
bắt… nằm im tại chỗ!

Chỉ tội cho Phan Huỳnh Điểu, một nhạc sĩ Rờ chính gốc
nhưng lại là “Rờ…miền Trung”, vào Sài Gòn ngay từ ngày đầu giải
phóng nhưng chẳng ai công nhận, chẳng thuộc biên chế nào dù ăn lương
của Hội Trung Ương, thậm chí chẳng được mời họp hành gì với lý do

“Để ông ấy về Đà Nẵng vì ngoài đó đang cần người như ông ấy”!

Trở về Trung Ương sau ngày thống nhất là cuộc rút lui
trong trật tự và đẹp mặt nhất. Đó là con đường danh dự của hàng loạt
các vị “không Nam”, “không Rờ”, nhưng quá tin vào ảo tưởng giống như
tôi. Họ không ngờ chính miền Nam sau này sẽ “làm lại” văn nghệ miền
Bắc! Họ cũng không ngờ dưới sự lãnh đạo tài tình của mấy ông lãnh
đạo văn nghệ miền Nam, chỉ trong vài năm tồn tại đã ra đời hàng loạt
tác phẩm văn học ba xu với những cái tên tác giả lạ hoắc. Hàng loạt
những bộ phim “mì ăn liền” bắt chước đấm đá Hồng Kông, hàng loạt
những gallery tranh bờ hồ, tranh ai vẽ cũng được, tranh “cởi truồng
mỹ thuật” đến thô bỉ đều được… hoà hợp ra đời, thậm chí có cả một
cuộc thi sáng tác tuyên bố trên báo “không dính dáng đến chính
trị, không kể cách mạng hay không cách mạng, không kể dân tộc hay
không dân tộc”
… miễn hay là được!

Còn hàng loạt vấn đề mà Đảng Cộng Việt Nam suốt bao
năm giáo dục văn nghệ sĩ thì…chính các tờ báo của “Đảng Xè Gòn”,
“Đoàn Sài Gòn” qua những “tuyên ngôn nghệ thuật”, hùa nhau phủ nhận
thẳng thừng! Các chuyện đau lòng trong đời sống văn hóa và xã hội
thời kỳ “đổi mới” và “hậu đổi mới” chính là những khối u ác của văn
hóa Việt Nam phát sinh từ một thể chế hoàn toàn thiếu bác sĩ tài
giỏi và thừa…“lang băm”! Nó cũng phản ảnh thực trạng một xã hội mà
trong đó kẻ cầm cân nảy mực chẳng thằng nào phục thằng nào, chẳng ai
nghe ai ngoài nghe cái lợi và quyền của cá nhân mình. Chẳng có phe
cộng sản tiến bộ hay phe cộng sản bảo thủ mà chỉ có sự phân hoá của
một bọn ngu si, cơ hội cạnh tranh nhau, triệt hạ nhau để làm vua,
làm lãnh chúa mỗi vùng mà thôi!

Cái cơ quan trung ương không ra trung ương, miền
không ra miền, địa phương không ra địa phương của tôi, từ một cơ
quan trực thuộc ban Tuyên Huấn Trung Ương Cục miền Nam (có dấu hình
chữ nhật!) nay nếu trở về với trung ương, tức là trực thuộc Ban
Tuyên Huấn Trung Ương mà chính Ban này không có cơ quan trực thuộc
nào to đến thế, câu hỏi muôn đời “tồn tại hay không tồn tại” của
Hamlet được đặt ra rõ như ban ngày.

Tuy nhiên, tư tưởng biến các cơ quan Sài Gòn thành cơ
quan ngang hàng thậm chí còn to hơn cả trung ương không phải là
không có trong các vị chóp bu của miền Nam mới “giải phóng. Ban
tuyên huấn thành uỷ lập tức cho lập một nhà xuất bản trực thuộc mình
có tên Nhà Xuất Bản Thành Phố Hồ Chí Minh, với giám đốc là một vị
chánh văn phòng trung ương cục, ông Tân Đức, người chưa một ngày làm
nghề xuất bản! “Nhà xuất bản Giải Phóng”, mặc nhiên đi theo tổ chức
trung ương cục vào… dĩ vãng!

Đảng Sài Gòn chẳng mấy khi được dịp “trả cho trung
ương những cái gì là của trung ương” mà không sợ mang tiếng “kỳ thị
Bắc Nam”! Giữa lúc chính ngay bộ và trung ương chưa biết sắp xếp, tổ
chức các thứ cơ quan kèm theo hai chữ “giải phóng” này nọ do chính
mình bày đặt ra như thế nào cho ngon thì ở Sài Gòn… lương bổng,
kinh phí hoạt động, xăng dầu cấp phát bị thẳng tay cắt cái rụp!

Khi đó, các cơ quan mới thành lập của riêng Sài Gòn
mọc lên ào ào, to hơn, đông hơn cả các cơ quan Miền ngày truớc! Đặc
biệt là sau bao năm nằm hầm, chạy B.52, lần đầu tiên chính thức làm
công chức ăn lương Nhà Nước, anh nào anh nấy đều “phóng” nhau lên
các chức vụ, các bậc lương tối đa! Một anh mới cán sự 4 bỗng nhận
trách nhiệm giám đốc với số lương ngang thứ trưởng. Ông Tân Đức giám
đốc nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh thì lương ngang bộ trưởng và
hơn bộ trưởng ở miền Bắc về những chiến lợi phẩm nổi và… chìm. Một
xe hơi Mỹ 8 máy với một chú lái riêng, một villa sang trọng với đầy
đủ của nổi, của chìm của một ông tai to mặt lớn “ngụy” nào đó bỏ
chạy vào giờ cuối cùng cuộc chiến. Riêng bà vợ cũng ở Rờ về với
cương vị chủ tịch Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Thành Phố, tiêu chuẩn chẳng
thua gì chồng. Cũng một xe hơi, một lái xe riêng, cũng lương ngang
bộ trưởng! Hai chú lái xe chỉ có một việc là hàng ngày đưa rước quan
ông, quan bà đi “làm cách mạng” ở một nơi không cách đường Bùi Thị
Xuân quá…2 cây số. Xa nhất có lẽ là những cuốc xe ra Vũng Tầu
để…“trả thù” hoặc “hưởng bù” những ngày nằm hầm chạy B.52! Những
công lao, thành tích năm bẩy phen suýt mất mạng ở Campuchia được các
vị giống như vợ chồng ông Tân Đức đòi “trả nợ”, đòi “đền bù” và coi
mọi sự hưởng thụ những gì được ban phát hoặc vơ vét được là lẽ đương
nhiên! Từ một anh “cộng sản ở Rờ” quanh năm nằm hầm tới anh “cộng
sản ở thành phố”, với xe hơi, nhà lầu, có kẻ hầu người hạ, cuộc sống
mới đã tạo nên một tầng lớp mới với những quan niệm mới, cách sống
mới cũng là điều dễ hiểu, nhất là khi cái tầng lớp đó lại tự nhận
mình là “đỉnh cao trí tuệ” của cả nước, thậm chí của cả loài người,
thì tai họa cho cả dân tộc này là cái chắc!

Riêng ông giám đốc bị “vô hiệu hóa” Hà Mậu Nhai,
người bạn tốt và khá trong sáng của tôi thì “cách mạng” đến mức làm
khổ cả mọi người. Ông không đi xe ô tô, dù cơ quan được cấp 2 ô tô,
mà đi…bộ đi làm! Để “bảo vệ” cán bộ, ông không cho ai được ra ở
ngoài và “nhốt” tất cả trong một chung cư 6 tầng của một cư xá Mỹ
tại số 83 Phan Kế Bính, sau này phát triển ra thêm ở 23 Gia Long.
Trước sự thoái hoá rất nhanh của một số cán bộ, ông lên án rất dữ
dội. Nhưng cuối cùng mọi sự trong sáng của ông cũng mờ dần. Ông chán
ngán các cảnh đấu đá để tồn tại, thay đổi cách nhìn, cách đánh giá
với những người mà trước kia, khi còn chức còn quyền, ông luôn cho
là chỗ dựa tinh thần, là người bảo vệ lẽ phải. Ông sẽ còn “cộng
sản đến cùng, theo gương Bác Hồ vĩ đại đến cùng”
nếu không có
cuộc đổ bộ “không tiền khoáng hậu” của gia đình nội ngoại ba, bốn
thế hệ, vợ con, con anh, con chị, con chúng ta (cả hai vợ chồng đều
có con riêng) vào Sài Gòn. Kỳ cục nhất là giấy điều động vợ ông
Nhai, một cán bộ thương nghiệp và gia đình vào Nam lại do ông… Bảo
Định Giang, Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật ký và đi máy bay là do
Ban Thống Nhất sắp xếp.
([26])
Đó là miếng võ hở thứ nhất của ông Nhai. Miếng võ hở thứ hai là do
hoàn cảnh bắt buộc, ông phải chạy vạy kiếm chỗ ở cho cả gia đình
nội, ngoại hơn chục mạng người. Và ông “đành phải” nhận — tức là xin
được cấp — một villla trong con hẻm khá kín đáo đường Hai Bà Trưng
với đầy đủ tiện nghi mà một bộ trưởng miền Bắc nằm mơ cũng không
thấy!

Thế là những người không ưa muốn trói tay ông lại,
bắt đầu tấn công, đòi phải mời cái “ông Bắc kỳ” này về đất Bắc.
Nhưng về sao được bây giờ khi cả nhà ông toạ hưởng ở cái “đất thơm
cò đậu” này, khi bà vợ đã được “cơ cấu” vào tổ chức thương mại Nhà
Nước đang cần người có kinh nghiệm…tịch thu hàng hoá, đánh xập mọi
cửa tiệm, dẹp hết những “phồn vinh giả tạo” của chế độ ngụy… bằng
chiến dịch cải tạo công thương nghiệp do ông Đỗ Mười

([27])

đích thân nổ phát súng lệnh mở màn!

Thế là, không còn con đường nào khác, ông đành chấp
nhận phương án “đầu hàng để tồn tại” nghĩa là “xin” sáp nhập vào cơ
quan của thành phố là nhà xuất bản của ông Tân Đức, chịu xuống cấp
phó tổng biên tập phụ trách mảng văn hoá nghệ thuật. Mặc dầu là phó,
ông chẳng coi chánh ra “cái đinh” gì nên quan hệ giữa hai ông là mặt
trăng và mặt trời, là một cuộc đấu đá, thậm chí chửi nhau công khai
giữa ba quân biên tập. Với tôi, ông có tình đồng học, đồng hương,
đồng ngũ nên luôn tìm đến để trút bầu tâm sự về mọi bi kịch mà ông
phải chịu đựng. Ngoài các việc riêng trong gia đình, ông cũng cho
tôi biết những bí mật mà chỉ ông và một số đồng chí thời 9 năm chống
Pháp, khi ông chiến đấu ở Nam Bộ, nay đã trở thành những người có
vai vế trong hàng ngũ lãnh đạo biết mà thôi. Qua ông, tôi càng thấy
được sự không tin, không phục nhau, thậm chí ghét nhau giữa các nhà
lãnh đạo miền Bắc và miền Nam trầm trọng đến mức nào.

Xét cho cùng, chỉ vì các vị lãnh đạo miền Bắc phạm
quá nhiều sai lầm nghiêm trọng như cải cách ruộng đất, cải tạo tư
sản, hợp tác hoá, đấu tố, truy chụp, thậm chí độc tài đến mức tự cho
mình là duy nhất sáng suốt…đã tạo nên một tâm lý trong những người
sau này trở thành lãnh đạo khu vực phía Nam đất nước: Quyết không để
tái diễn trên quê hương họ những gì đã xẩy ra ở miền Bắc.

Trong một bữa tiệc tổng kết tại 83 Phan Kế Bính, tôi
ngồi trố mắt nghe một vị tai to mặt lớn của miền Nam, ông Trần Văn
Giàu, phê phán thậm tệ các ông Trường Chinh, Lê Duẩn, kể tội ông Lê
Đức Thọ, đề cao tướng Trần Văn Trà, phủ nhận công lao thậm chí còn
có tội gây khó khăn cho chiến dịch Hồ Chí Minh của tướng Văn Tiến
Dũng ra sao. Ông Trần Văn Giàu cả quyết: “Đố anh Ba Mươi (gọi
chệch tên ông Đỗ Mười)
tiến hành được hợp
tác hoá, cải tạo tư sản ở miền Nam này! Làm không khéo dân Nam Bộ nó
nổi lên làm cách mạng lại từ đầu đấy”!

Dù ít quan tâm đến chính trị, nhưng luôn làm nhân
chứng sống của các cuộc đấu đá thanh toán nhau, tôi càng buồn chán
cho những cái đầu chẳng có chút ý thức nào vì dân vì nước, ngoài cái
miệng nói như thánh sống!

Nhìn từ xã hội đến cơ quan, tôi càng thấy rõ phải tìm
cách để tồn tại những năm cuối đời ở cái đất tưởng lành mà dữ này.
Nhưng tồn tại bằng âm nhạc là không được rồi vì chẳng còn một chỗ
dựa nào. Hội âm nhạc thành phố, sau những đụng độ về đường lối tổ
chức và hàng loạt bài báo tôi viết, đã “nghỉ chơi với tôi”. Bằng
chứng là suốt 20 năm tôi sống ở Sài Gòn, không một lần nào họ thèm
mời tôi đi sáng tác cũng như dự các cuộc hội họp, chia chác phần
thưởng. Ngay buổi công diễn bản concerto cho đàn bầu và giao hưởng
kỷ niệm 15 năm “thành phố giải phóng” do tôi viết, ngoài ông Xuân
Hồng bắt buộc phải có mặt để lấy điểm với trên, không có bất cứ vị
nào gọi là nhạc sĩ Sài Gòn hiện diện!

Hà Mậu Nhai lúc này cũng khuyên tôi: “Bọn mình
chẳng còn nhiều quỹ thời gian, hãy tranh thủ làm được cái gì cho bản
thân thì làm đi!”
Và, anh đã tạo điều kiện khá dễ dãi cho tôi
được tự do bay nhảy.

Tôi đã tranh thủ một năm ít nhất dăm bảy lần về Hà
Nội để làm phim, dựng tác phẩm. Tôi đã bay cả qua Lào làm chuyên
gia, viết nhạc cho phim Lào (do Kỳ Nam đạo diễn). Tôi đi Liên Xô,
Bulgaria dự hội nghị, dự liên hoan… Tất cả đều do miền Bắc cấp hộ
chiếu, cấp tiền!

Phải nói trong cái rủi cũng có nhiều cái may. Đây là
những năm nhờ cái tổ chức văn nghệ “dở Nam, dở Bắc”, nhờ sự trì trệ,
tranh phần, giáng chức, giảm biên chế, tách cơ quan, nhờ sự “oánh”
nhau đến mức vô hiệu hoá mọi hoạt động xuất bản, tôi bỗng dưng thành
một văn nghệ sĩ ăn lương mà muốn làm gì thì làm, đi đâu thì đi.

Chính thời gian này tôi mới có dịp vào Nam, ra Bắc,
sang Tây, về Đông để viết hàng loạt những thứ vừa “mì ăn liền”, vừa
“bày cỗ, bày bàn” để tự… thưởng thức.

Những món “cổ điển tử tế” đang có nguy cơ không được
hoan nghênh không chỉ ở “miền Nam nhạc nhẹ” mà cả ở miền Bắc đang
chuyển mình để tồn tại. Hàng loạt nhạc phim do tôi viết, lúc dùng
nhạc chính qui, lúc thì “tắc xình xình”, lúc nửa tỉnh nửa quê, theo
yêu cầu của các ông đạo diễn — xin lỗi — gần như 99% đều… mù nhạc!

Các nghệ sĩ lớn của “nghệ thuật thứ bảy Việt Cộng”
đều tranh thủ rủ tôi, một người rõ ràng không thèm làm nhạc phim vì
tiền bởi lần nào đi tôi cũng lỗ, theo các đoàn làm phim để vừa làm
vừa đi chơi, tìm hiểu cái phần nửa đất nước bị “nô lệ, bị kìm kẹp,
bị…đủ thứ khổ dưới chế độ Mỹ-Diệm-Thiệu-Kỳ này người ta sống sót
ra sao?

Đây là thời gian ra đời hàng loạt những bộ phim “xem
mà phát ngượng”, thậm chí chẳng muốn có tên mình ở générique nữa.
Hỏi ai còn nhớ những Như Thế Là Tội Ác, Tự Thú Trước Bình Minh,
Cư Xá Màu Xanh, Cuộc Chiến Đấu Còn Tiếp Diễn, Lối Rẽ Trái Trên Đường
Mòn, Phương Án Ba Bông Hồng, Bà Chủ Cuối Cùng, Ân Oán Nợ Đời, Xa Và
Gần, Lê Thị Hồng Gấm…
Mà có phải tác giả vô danh cho cam! Toàn
là đạo diễn “nổi tiếng” như Phạm Văn Khoa, Phạm Kỳ Nam, Khắc Lợi,
Huy Thành… sau này đều thành nghệ sĩ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú cả.

Với tôi, âm nhạc cho điện ảnh lúc ấy là trò “gõ phèng
la” để bán cao đơn hoàn tán dỏm. Không hơn không kém! Đó là những
cảnh Thẩm Thúy Hằng vào vai nữ sinh viên chống Thiệu-Kỳ, võ sư Lý
Huỳnh vào vai nông dân cách mạng, Chánh Tín trong vai chiến sĩ tình
báo Việt Cộng…!

Tội nghiệp, họ phải làm những việc họ chưa biết, chưa
sống qua, và chưa làm bao giờ, để mang tiếng với đồng bào Sài Gòn là
“nâng bi” Việt Cộng! Sở dĩ có tình trạng “ép uổng” này vì cái chủ
trương của mấy vị lãnh đạo gọi là “cấp tiến” của Sài Gòn: Cởi mở tối
đa với hàng ngũ nghệ sĩ biểu diễn nhưng thận trọng, thậm chí “cương
quyết không dùng” những người sáng tác, kể cả đạo diễn, của chế độ
cũ, trừ trường hợp đạo diễn Lê Hoàng Hoa được ông Mai Lộc, giám đốc
Xưởng Phim Giải Phóng dũng cảm bảo trợ, với điều kiện Lê Hoàng Hoa
phải đổi tên.

Cũng trong các cuộc đi làm phim “cho vui” này, tôi đã
thấy không thể và không bao giờ, các món ăn tinh thần mang nhãn hiệu
miền Bắc hoặc của miền Nam do các đầu bếp miền Bắc chế biến hợp với
thị hiếu của dân miền Nam, dù cách mạng hay không cách mạng. Tôi đã
thấy trước sự thay đổi đi xuống cả về nội dung lẫn hình thức của văn
nghệ miền Bắc. Rõ ràng, chỉ độ một, hai năm sau, các “ca sĩ có học”
đã dần dần học theo cách hát giả thanh để “tròn vành rõ chữ”, thậm
chí hát theo kiểu chính miền Nam xưa phải gọi là…“sến”! Phương
Thanh đánh võ, tắm truồng trong Tội Lỗi Cuối Cùng, Thanh Loan
cưỡi Honda bắn súng lục trong Phương Án Ba Bông Hồng…Còn
bài hát, nếu không trở về với cách viết, cách hát những năm
1940–1950 thì “nhái” lại ca khúc của Boney, Abba, Modern Talking…
một cách kệch cỡm, nhất là với sự bùng nổ các nhóm ca khúc gọi là
“chính trị” được Nhà Nước bao cấp và báo chí miền Nam “phóng” lên
như sự… “chuyển mình của âm nhạc giải phóng”!

Tôi cũng chứng kiến những cuộc “tận hưởng hoan lạc”
trong các vụ kéo quân đi biểu diễn, đi làm phim như thế nào. Phải
nói trắng ra là cái “utile” (có ích) chẳng còn, mà cái “agréable”
(khoái) thì…phát triển đến mức không thể tưởng tượng nổi! Nói cho
ngay, chẳng ai mua chuộc ai, kể cả những Lý Huỳnh, Thẩm Thuý Hằng…
mỗi khi đi làm phim đều bỏ tiền túi gấp trăm lần cát xê cách mạng
trả cho họ. Đơn giản là vì ham “làm nghề” mà họ đi. Nhưng làm nghệ
thuật với họ luôn là “cuộc chơi”…dài dài, là một cái gì đó xa xỉ
đòi hỏi phải có những bữa nhậu đắt tiền, những cuộc giải trí “mát
mẻ”, những điều kiện thoải mái…

Mấy ông Việt Cộng, tuy ít đô la nhưng nếu tham gia
những trò này thì lại tham gia “bạo” hơn ai hết. Mấy tiếng “chịu
chơi” như cái dấu đóng công nhận anh hay chị có thể đứng vào “phe
ta” rồi. Chính cái “trụ sở” của tôi, do sống độc thân và tôi hay đi
vắng, đã là nơi diễn ra đủ thứ thoái hóa không thể tránh của nền văn
nghệ terre à terre – lè tè mặt đất những năm sau này! Khỏi kể
những gì diễn ra sau các cuộc… “chơi” văn nghệ ấy! Chỉ xin tóm tắt
là trừ cờ bạc, tam đổ tường đều có đủ và dài dài! Thậm chí nhà tôi
có lần đã là nơi trốn tránh cho vài nhân vật bị… truy nã về tội
buôn lậu đô la, đá quý và cả thuốc phiện nữa mà khi vụ việc đổ bể,
tôi mới té ngửa do bị công an mời lên làm chứng cho những gì họ đã
lấy từ lời khai của đương sự!

Cũng tại nhà tôi, tôi đã chứng kiến cảnh nộp “thuế
thân” của một số nữ “diễn viên cũ” muốn trở thành “sao” cách mạng
thế nào. Không phải chỉ những loại thập thành, mà cả những ngôi “sao
mờ” từ Rờ ra, hoặc từ miền Bắc mới vào Sài Gòn. Hôm nay, tất cả họ
đã già, đã hết thời, đã có gia đình yên ổn, xin miễn nêu tên để
tránh nỗi đau lòng, cho họ và cho cả người viết. Tôi chỉ xin nhắn
những vị “nghệ sĩ lớn” với đủ các danh hiệu cao nhất của Nhà Nước là
lịch sử văn học nghệ thuật nước nhà sẽ chẳng bao giờ ghi nhận những
gì các vị đã làm ở thời gian này, dù lãnh đạo đã “bơm” các vị hoặc
các vị tự bơm lên những tước hiệu nhân dân, ưu tú, hay gì gì đi nữa!

Nhờ những năm sống và “chơi” văn nghệ, làm văn nghệ
là một cuộc chơi được mặc nhiên công nhận cho tới cuối thế kỷ 20,
tôi dần dần nhận thức rằng mình chẳng có sức, có lực, có tiền và
chẳng đủ tư cách để tham gia “đánh đu với tinh” mãi, nhất là bia
không biết uống, rượu thì chết khiếp, còn gái thì tôi lại quá…
“trí thức” trong tình yêu!

Mọi cuộc tham gia, chỉ có mặt tôi ở các khúc dạo đầu.
Đến các mục X, Z là tôi… biến, nên một vị “nghệ sĩ nhân dân” đã
kết luận: “Tô Hải là thằng luôn tỉnh trong khi người ta say!”
Nhưng lại có người thẳng thừng hơn: “Nó là thằng đạo đức giả”!
Có lẽ đúng nhất với tôi là câu: “Đó là một thằng…hèn”!

Vâng! Đúng, vì cái hèn mà tôi chẳng ra ông chẳng ra
thằng, người tốt chẳng ưa, người xấu chẳng thích. Tôi luôn bị giằng
co giữa cái xấu và cái tốt. Tôi luôn đề cao làm nghệ thuật nghiêm
túc nhưng không từ chối đi làm phim nghĩa là đi…chơi với một “nghệ
sĩ nhân dân” dù ngay buổi mời tôi tham gia, tác giả đã buông một
câu:
“Phim chẳng ra cái củ c… gì đâu
nhưng đi với bọn tao cho vui!”

Tôi không dám từ chối các cuộc “tao ngộ chiến” ngay
tại căn hộ 23 Lý Tự Trọng của tôi, khi từ xưởng phim ở đường Thi
Sách cách đó chừng trăm thước, hàng đoàn tài tử giai nhân kéo đến
giải lao với những chai Hennessi, Johny Walker và đồ nhậu được khuân
về từ Chợ Cũ! Những “cuộc chơi” này còn kéo dài nếu cuộc phiêu lưu
tự do không bị “hãm” bởi những bàn tay sắt mới:

— 1/ Sau một thời gian dài gần như “thả nổi” mọi hoạt
động văn nghệ của các đoàn cải lương, các nhóm “ca khúc chính trị”,
các hội hè cứ thưa dần vì…làn sóng vượt biên cuốn mất nhiều diễn
viên, các chương trình biểu diễn bị thay thế hình tượng cách mạng
bằng những hình tượng “ngày xưa”, và tất nhiên, tác phẩm của các văn
nghệ sĩ cách mạng cũng bị xếp xó.., những cán bộ lãnh đạo chợt “tỉnh
người” thấy cần phải ra tay ổn định lại trật tự. Người xiết khóa đầu
tiên là ông Võ Văn Kiệt với bài khai hỏa đăng hết hai trang ruột báo
Sài Gòn Giải Phóng. Ông khẳng định là “đường lối văn nghệ của Đảng
chỉ có MỘT dù kinh tế có NĂM thành phần!” Một bài đầy mâu thuẫn
thiếu tính thuyết phục ở cả thời điểm đó đến bây giờ.

— 2/ Sau cuộc rà soát lại hàng ngũ cán bộ, nhất là
sau khi những anh em có nghề chính gốc miền Nam được đi học ở nước
ngoài trước 1975 lục tục trở về, và những anh em “biến chất” đã bị
điểm mặt, tôi lại được nhận xét là người vững vàng nhất, được lãnh
đạo “miền Nam mới” tạm thời ưu ái!

— 3/ Sau cuộc ra đi hàng loạt của các nghệ sĩ mà
người ta mất bao công sức chèo kéo, lực lượng “văn nghệ miền” bỗng
thấy cần cái gì đó, một vài tay nào đó, biết nghĩ, biết nói, biết
làm và dám nghĩ, dám nói, dám làm.

— 4/ Sau những ngày uổng phí làm chẳng ra làm, chơi
chẳng ra chơi, tôi là phần tử vẫn còn thừa bầu máu… vịt để mang ra
xử dụng.

Thế là tôi lại được ném vào cuộc chiến “chấn chỉnh
văn nghệ”, nhưng lần này là chiến đấu trực tiếp với những gì mà các
“phù thuỷ cơ hội cách mạng” đã tung ra. Tôi mở đầu bằng bài “Có
hay không chủ nghĩa đế quốc trong âm nhạc”
đăng cả trang ruột tờ
báo Đảng, báo Sài Gòn Giải Phóng. Sau đó là hàng loạt bài “Nhạc
trẻ, cái gì vậy?”, “Quốc tế hoá bài hát Việt Nam, một xu hướng cần
báo động”, “Những ảnh hưởng tiêu cực của 35 năm nhạc Rock”

vv…bên cạnh là hàng loạt cuộc nói chuyện về thẩm mỹ âm nhạc trên
đài phát thanh, tại các trường đại học, các câu lạc bộ…bằng những
dẫn chứng mới nhất có được qua sách báo, thông tin của nước ngoài.
Với các ví dụ cụ thể trong nước, tôi cố gắng vạch ra…

Rằng thì là:

— 1/ Rock-pop không xấu, nhưng rock-pop hoá tới mức
cả nước đánh trống, cả nước ooc-ghita như bây giờ, nhất là bắt chước
tràn lan rock-pop phương Tây là… tai hoạ cho một nền âm nhạc dân
tộc hiện đại.

Rằng thì là:

— 2/ Âm nhạc không chỉ là một nghệ thuật mà còn là
một khoa học. Không thể chấp nhận một nhạc sĩ, một nhạc công, một ca
sĩ mà tới nay (những năm 1970-1980) vẫn cứ nghe băng đánh theo, học
hát theo kiểu dạy từng câu, chẳng biết “đồ rê mi” là cái gì.

Rằng thì là:

— 3/ Về sáng tác, không thể muốn viết sao thì viết…
Không thể phớt lờ cuộc sống của đất nước khó khăn tới mức phải ăn bo
bo, phải chia nhau vài lạng bột giặt, vài lạng đường, lạng mỡ…mà
lại viết về “cái tôi” đơn lẻ kiểu “tôi đi tìm tôi”, “mỗi ngày tôi
chọn một niềm vui” hoặc ngợi ca những cái không đâu như con sóng, nụ
hôn, lá me, cành sấu rồi… hết!

Tóm lại, tôi lên án thái độ “thiếu trách nhiệm công
dân” của một số văn nghệ sĩ, tôi nắm chặt cái “phao” văn nghệ phải
tạo được cái Đẹp cho tâm hồn bằng không thì chẳng cần có mặt nó
trong cuộc đời!

Những điều tôi viết và nói ra lúc ấy đã tạo cho tôi
một uy tín nhất thời nhưng có hại cho tôi thì vô kể! Cho tới lúc về
hưu, tôi vẫn chưa hết ân hận về những gì tôi đấu tranh cho cái ĐẸP
và chỉ cho cái Đẹp mà thôi, cái ĐẸP muôn thuở mà chẳng một thể chế,
một tập đoàn, một đảng phái, một thời đại nào có thể phủ định.

Một lần nữa tôi lại thấy mình: “Ngu vẫn hoàn ngu”!

Đã không ít lần, tôi bị sứt đầu mẻ trán về cái tội…
“đúng quá sớm”. Lần này, để bảo vệ cái Đẹp chung muôn đời của nghệ
thuật, tôi trở thành “kẻ thù” của cả “âm binh” lẫn “phù thủy”!

Tôi chất vấn sự im lặng đồng loã của người có trách
nhiệm về nền văn nghệ Xè Gòn, về sự chia rẽ trầm trọng các tổ chức
của miền, của thành phố, về sự ăn chơi phè phỡn, lên xe xuống ngựa
của những vị mà một dòng thơ, một vai diễn, một ngày nằm trong tổ
chức văn học nghệ thuật cũng chưa có, bỗng dưng có cả quyền cho sống
hay bắt chết cho anh chị em văn nghệ sĩ, kể cả cách mạng lẫn “tại
chỗ”… Tôi vạch ra những gì là “phản văn nghệ”, là vô nguyên tắc,
thậm chí là bịp bợm, là ngu dốt, “tương” tất cả lên báo, hoặc phát
ra ngay tại các hội nghị chuyên ngành và một vài lần có mặt cả những
nhà lãnh đạo cao nhất nhì của Đảng như Lê Đức Thọ, Nguyễn Văn Linh.
Lần nào ý kiến của tôi cũng được các thư ký đi theo các vị này ghi
ghi chép chép, thậm chí chính các vị cũng gật gù tỏ vẻ đồng tình và
sau đó, khi nghỉ giải lao hoặc lúc ra về nhận được hàng loạt cái bắt
tay khen ngợi của đồng nghiệp.

Tuy nhiên, một số cho rằng: “Thằng này dại! Kệ mẹ
chúng nó! Nói ra vô ích, chẳng thay đổi được gì mà chỉ mang thù
chuốc oán vào người!”
Tôi thì nghĩ mình chẳng có gì để mà mất,
chẳng có cái ghế nào, chẳng có ý đồ tranh ngôi vị của ai. Vậy thì dù
có bắn toàn những phát súng…“chỉ thiên”, ít nhất, sau này tôi cũng
được nhớ tới như một kẻ đã dám vác dáo lao vào cối xay gió, dù không
được người đời xem trọng bằng các vị đã dám bắn thẳng vào đường lối
văn nghệ của Đảng ở những thời Nhân Văn Giai Phẩm, hậu Nhân Văn, Xét
Lại…

Nhưng trước khi đi vào cái Đẹp chung chung, tôi chẳng
có chút “thành tích…chống Đảng” nào nên khi đứng lên bảo vệ cái
Chân, cái Thiện, cái Mỹ, vạch ra cái “Đẹp Chết Người” do Đảng Xè Gòn
khuyến khích phát triển, tôi đã bị những kẻ cơ hội cả trong lẫn
ngoài Đảng xếp vào loại… “kiên trì đường lối văn nghệ miền Bắc!?”

Tôi muốn hét lên rằng: thưa các vị, tôi đang đấu
tranh cho cái Chân Lý lâu nay bị Đảng xếp xó đấy! Tôi là nạn nhân
chính cống của chủ nghĩa cộng sản đây! Tôi không còn là đảng viên
nữa, nhưng “thành tích” bồi bút cho Đảng của tôi quá “to lớn” mất
rồi khiến khó có ai tin là tôi đang đấu tranh cho cái Chân Lý lâu
nay bị chối bỏ và bị những kẻ cơ hội bất tài đang hùa nhau vào phá
phách, dựng nên một phong trào “văn nghệ vô văn hóa”, “vô chính phủ”
và…”bịp bợm”!

Tôi gần như đơn độc giữa cơn lốc đòi hỏi Tự Do cho
văn nghệ miền Nam, một thứ tự do mà ở miền Bắc chưa ai dám nghĩ tới,
sau các vụ đàn áp văn nghệ không thương tiếc những năm
1956-1957-1958…Tuy nhiên, đã bắt đầu cuộc phản công văn nghệ cứng
đờ, giáo điều của miền Bắc, công khai ngay trên báo chí, trong các
cuộc họp, ở các bàn nhậu, các quán cà phê.

Đặc biệt lý thú là người nổ những phát súng đầu tiên
“bắn” vào cái Đẹp lại chính là các nhà lãnh đạo ngu dốt. Tự mình lập
toà án để xử chính mình bằng những cuộc “học tập”, những cuộc “hội
thảo khoa học”, tổ chức ra các trường bắn, những kẻ đinh ninh mình
là quan toà đến phút chót lại biến thành “kẻ bị dựa cột”

Điển hình nhất là cuộc hội thảo về “ảnh hưởng của chủ
nghĩa thực đân mới tới nền văn nghệ tạm chiếm” do Tuyên Huấn Trung
Ương tổ chức với mục đích đề cao nền văn nghệ “hiện thực xã hội chủ
nghĩa”, nền văn nghệ “vì nhân dân, vì Đảng” ở miền Bắc đã “thành
công rực rỡ” như thế nào, các thứ văn nghệ tư sản, cặn bã, lai căng,
mất nước, nô lệ nước ngoài trong hình thức cũng như nội dung tai hại
ra sao…Nào ngờ, các lý luận gia hàng đầu của miền Bắc đành “ngậm
hột thị” trước các câu hỏi hóc búa:

– Tại sao lại sao cấm in cấm đọc Vũ Trọng Phụng, Lê
Văn Trương, cấm chủ nghĩa này, trường phái kia trong hội họa… ?

– Có thể nào viết cái gì mà không nói đến Đảng, đến
Bác không?

– Bức tượng Thánh Gióng ở bùng binh Ngã Sáu phạm tội
gì mà ông X.. lên án và có ý định đập bỏ?..

Nổi bật lên là câu hỏi “Chủ nghĩa yêu nước, cái đẹp
nhân bản không thôi có đủ làm nên tác phẩm nghệ thuật giá trị
không?”

Tôi nhớ rất rõ sự lúng túng của các vị lý thuyết gia,
các vị lãnh đạo văn nghệ và tư tưởng lúc bấy giờ và chỉ mong các vị
đừng lao vào cuộc tranh luận mà… xập bẫy!

Nhưng chẳng ai ngăn được khi các vị đã mang đầy tính
tự hào chiến thắng trong người, khi các vị cứ huyên thuyên về các
thứ “hiện thực có cánh” với những “thành tựu của văn nghệ vô sản”
trong và ngoài nước bằng cách “cầm nhầm” luôn cả tác phẩm của Gogol
([28]),
Pushkin
([29]),
Tolstoi
([30]),
Chekhov
([31])…ra
đời từ khi ông Lê Nin còn chưa ra đời hoặc còn mặc quần hổng đít!
Các vị còn bạo phổi hơn khi lên án cả…“siêu thực”, “vị lai”, “cụ
thể”… trong hội họa, phủ nhận Camus
([32]),
Sartre, Robbe Grillet
([33])…với
“chủ nghĩa hiện sinh” suy đồi dù chưa hề đọc cuốn nào bằng bản gốc,
chụp hàng loạt mũ “chống phá cách mạng đến cùng” cho các nhà văn,
nhà thơ, hoạ sĩ đã di tản kịp trước ngày 30-4-1975.

Thái độ im lặng, nhún vai, lắc đầu, thậm chí bỏ phòng
họp của những người chịu không nổi bài giảng kinh thiếu thuyết phục
của các nhà văn nghệ “mác-mít”
([34]),
các lý thuyết gia “thầy mo”, “lang băm”, mãi sau này vẫn là chuyện
đàm tiếu về “văn nghệ trong tay những thằng ngu” hoặc “văn nghệ
luyện ngu từ…Mốt-xờ-cu Lê-nin-rát…”

Riêng tôi, tôi có thể nói gì nếu chưa bắt đầu bằng đề
tài cơ bản nhất “không có văn nghệ đích thực từ khi Đảng Cộng Sản
Việt Nam” độc quyền lãnh đạo?

Chỉ nói lên cái SỰ THẬT ê chề đó, phủ nhận nó, tôi
mới có đủ tư cách bàn về cái ĐẸP! Bằng không, mọi thứ lý luận bảo vệ
cái Đẹp chung chung của tôi chỉ là luận điệu không đầu, không đuôi
nhằm bảo vệ cho một chủ trương trước mắt Đảng mà thôi! Sai lầm cơ
bản nhất của tôi là kẻ đang sống chung với con vợ đĩ điếm lại đi rao
giảng thế nào là người đàn bà đức hạnh. Cái Hèn của thằng chồng mọc
sừng nhưng vẫn im thin thít sống chung với con vợ hư đốn là ở chỗ
đó! Vì vậy, dù là người hay nói năng bạo phổi, tôi đành cam chịu số
phận của một tên “gián điệp hai mang” mà ngồi… im thin thít!

Hội nghị kéo dài cả tuần mà chẳng bớt được một đoàn
cải lương diễn toàn “tuồng tích cũ”, chẳng đập bỏ được một tượng đài
nào…Trái lại, nó cũng có ích ở chỗ hàng loạt tác phẩm từ xửa từ
xưa thi nhau “tái xuất giang hồ.” Mở đầu là tiểu thuyết của nhóm Tự
Lực Văn Đoàn, sau đó là những Lê Văn Trương, Thạch Lam, Vũ Trọng
Phụng, Hồ Biểu Chánh… được đóng dấu “tương đối tiến bộ”, “tương
đối giá trị”, “không khiêu dâm đồi trụy”, nhất là “không chống cộng”
để…thay thế những Mai Thảo, Nguyễn Thị Hoàng, Lệ Hằng… thì ít mà
phủ nhận tác phẩm và “tác giả cách mạng” thì nhiều. Trên thị trường
văn nghệ, xuất hiện hàng loạt nhà văn chưa ai nghe tên, chưa bao giờ
có tác phẩm nhưng cực kỳ ăn khách bình dân do xào xáo phim truyện
Hồng Kông nhiều như… các “cây xăng cục gạch” bên lề đường. Điều
đáng chú ý ở đây là tất cả đều do các nhà xuất bản của Đảng, dưới sự
lãnh đạo toàn diện của Đảng… tung ra, vì cho tới nay, không hề có
tự do xuất bản hay báo chí trong chế độ độc Đảng cầm quyền này.

Vậy thì vì sao mà loạn tiểu thuyết ba xu, loạn phim
“mì ăn liền”, loạn bài ca não tình gợi dục đến mức nhiều nhà trí
thức “còn kẹt lại” phải rung chuông báo động trên báo chí vì sợ ảnh
hưởng tới con cái họ. Xin thưa: để tồn tại, mỗi cá nhân, mỗi tổ chức
của Đảng đều phải xoay sở bằng mọi cách. Riêng về xuất bản, các ông
tổng biên tập, chịu trách nhiệm trước Đảng và trước vài ba chục nhân
viên của mình, trước nguy cơ dẹp tiệm vì sách cách mạng “bán cân
cũng chẳng ai mua”, bèn có sáng kiến: kế hoạch A là in sách cách
mạng, kế hoạch B là in sách “vô thưởng vô phạt” hoặc sách rẻ tiền
nhưng ăn khách. Thế là kế hoạch B được đặc biệt ưu ái vì nó nuôi
sống kế hoạch A và cả đống người đang ngồi chơi xơi nước. Buồn cười
nữa là các nhà tư sản thoát chết, các tay đầu nậu, các nhà văn, nhà
nhạc ba xu bây giờ lại là người…nuôi các cơ quan của Đảng bằng
những khoản hoa hồng, phát hành… phí! Mà có mất gì cho cam, ngoài
chữ ký với cái dấu OK mà Đảng đã trao cho một anh nào đó giữ! Cục
Xuất Bản Nhà Nước có tài thánh cũng chẳng kiểm soát nổi mấy chục nhà
xuất bản của địa phương, đoàn thể, các bộ, các ngành! Ở các rạp
chiếu bóng, người ta ùa nhau đi xem lại những Giai điệu Hạnh Phúc
(Mélodie Du Bonheur), Cuốn Theo Chiều Gió (Autant En Emporte Le
Vent), Mãnh Long Quá Giang
(của Lý Tiểu Long), thậm chí cả đến
những loại như Ngã Ba (cháo) Lòng… chứ những bộ phim
đen trắng ùng oàng và…“bịa” của miền Bắc đã làm họ “tởn đến già”!

Cuộc phản công văn nghệ toàn diện lần này chẳng phải
do “thằng địch” nào âm mưu. Tất cả đều được đóng dấu của nhà cầm
quyền văn nghệ và được báo chí của Đảng cho phép. Lọt thỏm trong cái
rừng văn nghệ “phi vô sản” là vài cuốn sách tái bản của các tác giả
tiền chiến. Trước tình hình kinh tế ngày càng khó khăn sau những
chiến dịch cải tạo, những cuộc “tấn công quyết định vào pháo đài
Chợ Lớn mà chưa chế độ nào dám làm”
(chữ của ông Bảo Định
Giang), những cuộc tịch thu đóng cửa tiệm đồng loạt, những cuộc vây
ráp chợ trời, đặc biệt là hai cuộc đổi tiền (sự thật là thu hồi tiền
mặt và chỉ trả lại cho mỗi người một số tiền tối thiểu), Sài Gòn trở
thành rỗng tuếch về bề mặt! Nhưng về phần chìm, Sài Gòn vẫn là…
Sài Gòn! Bên cạnh những ông chủ cũ với những két sắt đầy vàng,
đô-la, kim cương mà các cửa hiệu do con, cháu, người làm công đứng
tên bị đóng cửa, bị tịch thu, xuất hiện những ông chủ mới giàu lên
một cách nhanh chóng nhờ “hôi của lúc cháy nhà”.

Chính thời kỳ này đã giúp cho hàng vạn tay cơ hội
chiếm đoạt không biết bao nhiêu tài sản của các thứ “kẻ thù cách
mạng” để biến thành của riêng, của con cháu, người quen. Ai có thể
thống kê được những gì các “đội cải tạo” đã “tịch biên” của hơn một
triệu cửa hàng, gần 7.000 xí nghiệp to nhỏ của cái thành phố lớn
nhất nước này? Và cũng chẳng lấy gì làm lạ khi một “đạo diễn điện
ảnh” cách mạng bổng trở thành…chủ một cửa hàng nhiếp ảnh to nhất
Chợ Lớn.

Ngay một nhà máy đã quốc hữu hóa, sau này người ta
vẫn có thể úm ba la “hô biến” để nó trở thành nhà máy… tư nhân cho
vợ đứng tên như trường hợp nhà máy mì ăn liền Miliket. Một ông bí
thư quận bỗng thành chủ nhân của 5 ngôi nhà cao tầng — tất nhiên ông
không dại gì mà đứng tên. Và những cán bộ “cải tạo tư bản”, “cải tạo
công thương nghiệp” sau khi kê khai qua quít số hàng, số tiền,
vàng… trong két các khổ chủ quên nạp cho ban cải tạo bảng kê khai
để sau này thành những nhà tư bản mới.

Tôi đã nhiều lần chứng kiến cảnh “khuyến khích ăn
cướp” một cách vô chính phủ này. Không những thế, đã hơn một lần
người ta đề nghị tôi giúp họ quản lý ba bốn ngôi nhà — có ngôi 6
tầng — của các chủ cửa tiệm, chủ xí nghiệp do sợ hãi bỏ trốn. Đặc
biệt là ô tô lúc này thì…cho cũng chẳng ai thèm nhận. Trong giới
văn nghệ, ngoài các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam (có anh Năm, anh
Sáu che chở), dân miền Bắc chỉ có hai nhạc sĩ đi Liên Xô về dám
“chơi” xe (mua hoặc ai cho thì không rõ). Hai ông Văn Ký và Đình Tấn
đưa hai chiếc Mazda về Hà Nội với lý lẽ: “Nhạc sĩ các nước XHCN
đều đi ô tô cả, sao mình lại không thể đi!”
Hai chiếc xe trở
thành đề tài đàm tiếu dài dài ở miền Bắc khi hai ông (cả hai đều
không có nhà riêng mà ở nhà tập thể) vô tình biến hai chiếc xe thành
hai cái tổ… mèo, chuột, sau rốt thành nơi xả rác cho người qua
lại. Còn biết để chúng ở đâu, ngoài cái lòng đường?!

Cũng phải thú thật là do tôi nhát và đã có kinh
nghiệm với những… cú đá hậu khi “hở sườn”, đồng thời do bản tính
sĩ diện hão (hay ngu lâu?) nên người ta ấn vào tay cái gì tôi cũng
từ chối phắt. Mặt khác, tôi cũng mặc cảm về thân phận một thằng
“ngoại lai” nên rất ngại trước những ưu ái và rủ rê của mấy ông coi
trời bằng vung. Làm gì đến lượt mình những thứ quá lớn này. Rồi đây
biết đâu người ta chẳng đòi lại và phân phối lại!

Quả vậy, tôi chỉ nhận một chiếc piano vứt đi, không
mác, sản xuất tại đâu không biết, để làm việc hàng ngày, còn phải bỏ
tiền ra mua dây bị đứt, tu sửa bộ máy mới dùng được. Thế mà sau khi
thống nhất hai miền người ta còn đòi, huống hồ cái nhà to đùng với
đầy đủ tiện nghi?

Cuộc tịch thu, tiếp quản, đổi chủ lần này, có tôi
tham gia và chứng kiến tận mắt, là cơ hội không chỉ bằng vàng, mà
bằng… kim cương cho kẻ đã có kinh nghiệm hoặc đã bỏ lỡ việc kiếm
chác những ngày đầu tiếp quản vì máu cách mạng lúc ấy chưa chuyển từ
đỏ sang đen! Có nhiều người hôm trước còn là người hiền lành tử tế,
hôm sau đã trở thành tên cướp hung bạo khi khảo của khổ chủ. Có
người chưa kịp hét lác thì khổ chủ đã tất tưởi đem nộp cả hộp bích
quy kim cương chỉ để xin ông cán bộ báo cáo giùm lên trên (tức là
ông hoạn lợn Đỗ Mười) rằng “nhà này không có gì”). Những chuyện cười
ra nước mắt như thế nhiều lắm, kể không xiết. Chả thế mà đã có bao
“nhà cách mạng” năm xưa nay làm chủ cả mấy ngôi nhà (hồi ấy gọi là
“phân phối”), chưa kể tiền vàng, tiêu mấy đời không hết.

Số phận các “nhà cách mạng” sau cuộc đại vơ vét này
không giống nhau. Những kẻ lõi đời đóng vai củ mỉ cù mì cho đến khi
đủ tuổi về hưu non, “hạ cánh an toàn”, yên hưởng hạnh phúc bên vợ
con và…hàng tá bồ nhí. Ngay giới văn nghệ cũng có những “nhà” nọ,
“nhà” kia đang say mê sáng tác bỗng tự nguyện bỏ nghề để rồi chính
mình hoặc con cái trở thành những “đại gia” sau này.

Một số vì quá tham lam trong thời “bung ra”
([35]),
vì quá tin ở ô dù, vì chia chác không đều, vì ghen ăn tức ở, vì
nhiều nguyên nhân khác nữa, bị ra toà, ngồi tù. Được cái các bậc đàn
anh vẫn còn chút lòng thương đàn em kém may mắn nên họ chỉ lãnh
những bản án không nặng, ngồi tù ít lâu rồi ra. Số khác do có quá
nhiều tiền không biết làm gì nên lao vào các cuộc ăn chơi trác táng
đến…chết trong lòng người đẹp Xè Gòn (như một nhạc sĩ mà tôi không
nỡ nêu tên), cũng như những kẻ vì rượu chè tối ngày mà bị ung thư
gan, dạ dày và chết non vì…“bệnh hiểm nghèo” (theo cáo phó).

Riêng số sống phây phây, không cần làm vẫn có ăn, là
số đông, thì nhiều lắm, kể không hết. Nhìn lại tình hình xã hội
những năm “hậu cải tạo” đó thì sau các “chiến dịch Z, X, Y”… cả
miền Nam, với những loại cán bộ đa số là “ăn hại đái nát”, thậm chí
cả những tội phạm hình sự gốc gác miền Nam cũng lọt vào nhiều cương
vị lãnh đạo, giám nọ, tổng kia, những tên chưa bao giờ vào Đảng bỗng
trở thành bí thư đảng ủy… làm chủ các xí nghiệp, nhà máy, công ty,
cửa hàng, khách sạn được quốc doanh hóa… !

Cái xã hội chủ nghĩa xơ xác kiểu Bắc cờ đã nhanh
chóng có mặt trên mảnh đất thừa thãi lúa gạo, hàng hoá, hoa trái.
Biểu hiện đầu tiên của những mặt “ưu việt” đặc trưng cho lối sống
miền Bắc là tem phiếu, sổ gạo. Còn hơn cả miền Bắc, người ta đưa vào
chính sách phân phối đến cuộn chỉ, cái kim, bao diêm, lạng bột
ngọt…được đặt tên theo lối Tầu là “nhu yếu phẩm.”

Ở nông thôn còn tệ hơn, ngay các “nhu yếu phẩm” bèo
bọt như thế dân chúng cũng chẳng được hưởng. Chính sách phân phối
chỉ áp dụng cho thành phố mà thôi. Nông dân Nam Kỳ quen nếp sống tự
do, canh tác dựa theo trời đất, bị dồn vào các hợp tác xã. Lối canh
tác không tuân theo quy luật thiên nhiên mà theo nghị quyết Đảng đã
chứng tỏ cái tai hại ở miền Bắc nay được áp dụng triệt để ở miền
Nam. Việc các vị trên “đỉnh cao trí tuệ” đùng đùng ra lệnh quy hoạch
lại đất đai, bịt kênh này, khơi kênh kia, đốt rẫy, phá rừng trồng
sắn…mang lại hậu quả tức thì: Từ chỗ thiếu ăn đi đến chỗ đói dài
dài.

Thế là nhân danh sự bảo vệ địa phương để gạo không
lọt ra ngoài, các anh Hai ở các tỉnh đã tìm ra cách kiếm chác không
thua kém các anh Hai Xè Gòn: Ra lệnh “ngăn sông cấm chợ”. Tình trạng
địa phương cát cứ tất nhiên không làm cho đời sống ở nông thôn khá
lên, nhưng ảnh hưởng của nó lên Sài Gòn lập tức thấy rõ.

Trong bữa cơm của mọi gia đình cán bộ trung lưu “tại
chỗ”, cả những gia đình cán bộ “ngu lâu”, bắt đầu phải ăn độn từ mì
đến ngô và cuối cùng là… bo bo nhập khẩu!

Làn sóng vượt biên bắt đầu. Hàng vạn công chức “ngụy
quyền”, gia đình “ngụy”, cả những gia đình chẳng “ngụy” tí nào, cũng
lần lượt tìm đường “ra đi”. Giới nghệ sĩ cũng thế, nghệ sĩ “tài
danh” và không “tài danh”, đều “ra đi” tuốt, “ra đi” bằng bất cứ giá
nào. Đáng chú ý là trong số người vượt biên có cả những đảng viên
cộng sản.

Nguyên nhân “ra đi” của họ thì nhiều: Người thì đi
theo khối tài sản kếch xù đã chuyển được ra nước ngoài nhờ các “sếnh
xáng” Chợ Lớn, người vì có quá nhiều tiền nên tiêu xài vung vít, do
ghen ăn tức ở mà bị lộ, phải nhanh chóng “good bye” cách mạng. Như
trường hợp ông Mai (tôi không nhớ họ của ông ta), giám đốc khách sạn
Caravelle, nguyên sĩ quan không quân Việt Nam anh hùng, hoặc Bảy
Tui, trưởng công an Quận 5, và vợ là Quế Mùi, diễn viên Đoàn văn
công Tổng Cục Chính Trị được cử đi B để thành lập Đoàn văn công Quân
Giải phóng, sau làm trưởng phòng văn hoá quận 5!

Tất nhiên, nhân dịp này Đảng không quên trà trộn cán
bộ tình báo của mình vào đấy cho những kế hoạch lâu dài. Phần lớn
những tên “nằm vùng” về sau thành “vượt biên” thứ thiệt, chỉ có một
số trung thành với những ưu tiên ưu đãi hoạt động chia rẽ cộng đồng
hải ngoại, chia rẽ tôn giáo, đả phá những người chống cộng.

Trong tình hình ấy những người còn rớt lại đều phải
lo thu vén kiếm chác để cứu bản thân và gia đình bằng mọi cách, kể
cả bán tiêu chuẩn nhu yếu phẩm nhỏ nhoi cho dân “phe”. Cái hiện thực
xã hội sờ sờ trước mắt chẳng được một nhà văn nhà báo nào phản ảnh!
Biết cả đấy, nhưng chẳng ai dám có ý kiến hoặc viết lách gì về cuộc
“phá hoại lịch sử” mà viên tổng tư lệnh Đỗ Mười hò hét

“đánh nhanh – diệt gọn!”

Nhưng trước tình hình bi thảm chưa từng có của đất
nước, trước mọi hoạt động xã hội bị tê liệt gần như toàn diện, trước
nguy cơ mất quyền lãnh đạo vào tay các “đồng chí mà chẳng đồng
tình”, những kẻ chóp bu cũng không thể nhắm mắt tụng mãi bài kinh
“cải tạo xã hội chủ nghĩa” học mót từ Nga, từ Tầu. Một cuộc liên
minh Bắc Kỳ – Nam Kỳ mặc nhiên hình thành. Mâu thuẫn ở hạ tầng đã
làm lu mờ mâu thuẩn giữa người cầm cân nảy mực ở Hà Nội và Sài Gòn.
Người ta nhất thời đoàn kết lại thành một khối… lủng củng trước nguy
cơ một cuộc khủng hoảng toàn diện.

Chúng tôi nín thở theo dõi những diễn biến trong cung
đình qua những tin đồn…thiệt và thất thiệt. Sau cái chết của Ba
Duẩn, Trường Chinh sẽ trở lại nắm quyền? Hay Sáu Búa Lê Đức Thọ? Hay
một “anh” nào khác? Tất nhiên không phải cái anh hoạn lợn Đỗ Mười đã
làm cho cả miền Nam điêu đứng.

Cuộc đấu đá âm thầm đi vào kết thúc. Ông Nguyễn Văn
Linh
([36]),
người đứng giữa các phe nhóm tranh giành quyền lực, được đặt vào ghế
tổng bí thư để sửa chữa cái sai lầm không bao giờ được công nhận.
Với ngọn cờ mới, giọng điệu mới, Đảng “vô cùng sáng suốt” quay ngoắt
180 độ để đi đến sự cố bi hài: “Đổi mới”…như cũ!?

Tôi là người “bắc nồi trõ nghe hơi” không dám luận
bàn, chỉ xin nôm na kể mấy câu:

Từ khi đảng cho phép dân buôn bán trở lại, cho làm
chủ mảnh ruộng, mảnh vườn, cho mở chợ kể cả chợ trời, cho bà con
buôn thúng bán mẹt được hành nghề, nhà hàng khách sạn được tái khai
trương…tức thì mọi sự lại… như cũ. Nhưng vì vướng cái cục xương xã
hội chủ nghĩa ở cổ họng, nó chẳng thể nào bằng cũ được.

Từ miệng ông thủ tướng, ông tổng bí thư, ông chủ tịch
Quốc Hội, mới hôm nào còn hùng hổ kêu gọi “đập tan chủ nghĩa tư bản”
nay lép bép phát ra lời “chúc làm ăn buôn bán phát tài”! Những cái
đổi mới trông thấy và sờ thấy chỉ là mấy cái…bảng hiệu, được thay
thế tiếng Việt thành tiếng Anh, to hơn, đẹp hơn và đàng hoàng hơn.
Còn bên trong các nhà máy, các công ty lớn như điện nước, bưu điện,
đường sắt, các cơ quan công quyền thì rơi vào tay các ông chủ mới.

Các ông chủ mới này, không phải bỏ một đồng vốn
riêng, sẵn sàng vung vít tiêu xài, trả lương, phát thưởng, tha hồ
“ban”, tha hồ “cho”, tha hồ vơ vét, bất khả kiểm soát … mãi mãi
cho đến sau này trở thành “QUỐC NẠN” tức là THAM NHŨNG CÓ TỔ CHỨC!!!

Tóm lại, những người cộng sản bỗng bừng tỉnh, thấy
mình trót bỏ phí cuộc đời để theo một lý tưởng ba lăng nhăng. Vậy
thì tội gì mà không tương kế tựu kế, cứ phất cái ngọn cờ rách cộng
sản lên mà lập thành một đảng mới, một đảng mafia, làm giầu cho mình
và cho con cháu! Cuộc vơ vét bằng hết của cải, tài nguyên đất nước
vào tài khoản của mấy thằng cộng sản to đầu nhất bắt nguồn từ những
ngày chiếm được “viên ngọc Sài Gòn”. Cái trò đánh lận con đen, thay
chủ nghĩa cộng sản đạo đức giả bằng chủ nghĩa tư bản đỏ đích thực
bắt đầu từ đây.

Nhưng để chuẩn bị cho một loạt tư bản, tài phiệt thật
ra đời, phải “đôn” ai lên thành tư bản thiệt…nếu không phải chính
con cái, họ hàng của mười mấy tên tắc kè nhông cộng sản ở chính
trong cái Bộ (vô) Chính Trị? Y hệt như thời các bí thư, các tay trùm
KGB, các giám đốc nắm mọi cơ quan kinh tế của “thành trì cách mạng
Liên Xô” trước khi sụp đổ.

Có điều ở Việt Nam, bọn trùm mafia ranh mãnh hơn
nhiều. Chúng dùng cái thể chế sẵn có, xử dụng bộ máy chuyên chính
sẵn có, đặc biệt là hủ hoá bằng hết những đảng viên, những tướng tá
quân đội, công an và đặc biệt dùng hàng trăm tờ báo và đài phát
thanh, truyền hình từ trung ương đến địa phương để bịt miệng bằng
hết những người muốn nói thật về cái thể chế mà chúng đã có công
thay đổi đến tận gốc.

Văn nghệ, cụ thể là cái nhà xuất bản văn nghệ của
tôi, cũng như các nhà xuất bản khác, sống ngất ngư… Không còn một
cân giấy để in, không một nhà in tử tế nào còn… mực. Thỉnh thoảng
mới có một tập truyện ngắn với đề tài chiến tranh, một hồi ký, trong
đó có cuốn hồi ký của tướng Trần Văn Trà vừa mới xuất hiện trên quầy
sách được bị… thu hồi, được ra đời.

Một cách xuất bản “mới” lập tức ra đời: “liên doanh
với tư nhân”. Đó là nhờ có chính sách “bung ra” của ông Mười Cúc
Nguyễn Văn Linh. Gọi là liên doanh cho oai, chứ thực chất đây là bán
giấy phép xuất bản cho tư nhân để lấy phần trăm hoa hồng, tiền này
chủ yếu dùng vào việc trả lương cho những người trong biên chế của
nhà xuất bản đã rỗng túi. Cùng với những đầu “sách liên doanh” và
vài cuốn “sách cách mạng” nằm hóng bụi trên các quầy hàng, một làn
sóng sách dịch, từ đứng đắn đến táp nham, “dịch thật” cũng như “dịch
giả” ra đời. Đặc biệt là sách “chạy ngoài” do tư nhân làm ký tên nhà
xuất bản thì không thiếu giấy tốt, mực đẹp, bìa láng, nhờ họ có
những “tuy-ô”
([37])

riêng để mua giấy, mua mực, kể cả nhập lậu, có cách trả tiền riêng,
có nhuận bút cho tác giả hay dịch giả cao hơn hẳn chính sách lỗi
thời về bản quyền của nhà nước.

Đi đến bất cứ sạp báo nào cũng thấy đầy những tên
tuổi từ Victor Hugo, Hemingway
([38])
đến các nhà văn trinh thám J. Hadley Chase, thậm chí cả những ngọn
bút chống cộng khét tiếng hoặc dâm ô có hạng như Gérard De Villier,
Jacqueline Suzane, Ken Follet… đều được các nhà xuất bản từ trung
ương (thường là chi nhánh miền Nam) đến địa phương (các thứ nhà xuất
bản Sài Gòn, Tiền Giang, Hậu Giang, Cà Mâu, Đồng Nai…) ào ào cho ra
đời, đôi khi cùng một tác phẩm, chỉ khác có cái tên. Đơn giản vì các
ông tổng biên, phó biên và biên tập viên chẳng biết một chữ Tây nào
mà lại lao vào con đường duyệt sách dịch nên các dịch giả láu cá đổi
cái tên sách đi là hai bên đều có lợi! Miễn sao mỗi tháng ra được
vài đầu sách là có tiền lương, tiền nhậu nhẹt, chia chác. Hơn nữa,
cuối năm thành tích về số đầu sách xuất bản lại được ghi nhận bởi
các cấp phụ trách xuất bản là… “cao hơn gấp cả 10, 20 lần so với
năm trước!”

Tình hình xuất bản âm nhạc thì không còn kho dự trữ
băng nào, không còn nhà “tư sản yêu nước” nào tiếp tục ủng hộ cách
mạng nữa. Ông Hoàng Hiệp, người có tiếng nói về âm nhạc nặng ký nhất
với anh Tư, anh Sáu đã… “bỏ của chạy lấy người”, chỉ còn lại mình
tôi, một nhạc sĩ được tạm làm nghề… biên tập sách dịch!

Của đáng tội, cũng nhờ cái “tạm” này mà tôi lại một
lần nữa thấy được nghề âm nhạc gay go phức tạp, khó khăn (và cả khó
ăn) đến mức nào, trong khi nghề dịch sách vừa có tiếng lại có miếng,
thậm chí dịch giả hạng bét cũng có thể ra được vài ba cuốn trong một
năm, đủ sống lè phè ở thời điểm cuối thập niên 1980 và đầu 1990.

Tôi thành người biên tập duy nhất có hai ngoại ngữ để
có thể đọc và phát hiện sự láo khoét, bịp bợm trong đống bản thảo
dịch hổ lốn mà các đầu nậu mang đến “xin” nhà xuất bản Nhà Nước đứng
tên, đóng dấu. Tôi phát hiện ra những trùng lặp do cố ý đổi tên
sách, những cắt xén, bịa đặt thậm chí dịch ngược hoặc chẳng dịch gì
mà viết theo nội dung từng chương một của nguyên bản cũng như chuyện
ba xu viết theo phim Hồng Kông.

Từ chỗ dồn hết khả năng và thời giờ để hiệu đính, sửa
chữa…tôi bỗng nảy ra ý nghĩ: “Tại sao mình không tranh thủ lúc âm
nhạc đang bế tắc này mà chuyển sang nghề dịch, vừa ích nước lại lợi
nhà”! Cụ thể là một cuốn sách dịch lúc bấy giờ, số xuất bản đến 25,
50 ngàn bản, dù đầu nậu có “bóc lột”, có khai khống số lượng, mỗi
“dịch giả” hay “dịch thật” đều được trả một khoản đủ mua chiếc xe
Honda 50 tức gấp 10 thu nhập lương/tháng.

Thế là tôi đóng cửa dịch sách!

Hai năm trời, dưới tên thằng cháu nội Tô Hải Anh, tôi
được các nhà xuất bản, các đầu nậu tung ra thị trường một loạt sách
vừa nghiêm túc (như Bug Jargal của Hugo) vừa “best-seller”
(như Night out của J.H.Chase) và tôi bỗng nhận ra rằng bao cố
gắng để cập nhật kiến thức qua sách báo ngoại quốc, bao đêm đội nón,
lội mưa đi học thêm tiếng Anh, bao sự liều lĩnh để được đọc, được
xem những gì suốt gần 30 năm không được phép sờ mó tới (tôi là người
đầu tiên cầm thẻ thư viện Pháp do ông giám đốc người Pháp ký), đã
bắt đầu phát huy tác dụng cụ thể.

Từ người nghèo nhất trong số văn nghệ sĩ cách mạng,
không nhà riêng, không xe máy, tivi, tủ lạnh, chỉ “trần xì” sống
bằng đồng lương èo uột mỗi ngày một mất giá, tôi đã có điều kiện
“tiến lên tư bản chủ nghĩa”, sắm được cho mình một số “tư liệu sản
xuất” như đàn piano, dàn máy, tivi mầu, xe máy! “Tay trái khoẻ hơn
tay phải”, “chân ngoài dài hơn chân trong” là như vậy!

Tuy nhiên tôi vẫn thấy ngượng vì mang tiếng nhạc sĩ
mà phải sống bằng nghề của người khác. Do đó tôi chưa bao giờ dám ký
tên thật cũng như sau này, với 5 năm làm báo, làm sách, tôi cũng chỉ
ký dưới tên Kính Viễn Vọng, T.H, Hải Anh, Anh Hải, trên các trang mà
tôi “đứng mục” hàng tuần: “Chuyện lạ văn hoá nghệ thuật thế giới”.

Cái “tay phải”, cái “chân trong”, của tôi gần như tê
liệt trong khi các đầu nậu từ Cửu Long, Đồng Tháp, từ Hà Nội vào ký
hợp đồng và tạm ứng cho tôi tới mức…chỉ có về hưu thì may ra mới
đủ thời gian thực hiện. Và tư tưởng “Au revoir”

([39])
Nhà
Nước trong tôi lại nhen nhúm.

Chính vào thời gian tôi quyết quên đi những gì đang
diễn ra trên “đấu trường âm nhạc” là lúc bùng nổ các bài hát nước
ngoài và sau đó là sự tái chiếm trận địa của các băng nhạc gọi là
“hải ngoại”. Tới đâu cũng thấy người ta công khai nghe băng từ Elvis
Phương đến Tuấn Vũ, Hùng Cường… thậm chí trên các sân khấu ca
nhạc. Người ta hát cả những bài ca của “lính cộng hòa” (trước đây mà
hát thế chỉ có…chết) như trường hợp ca sĩ Ngọc Sơn nổi danh một
thời, bị ra toà, nhưng rồi được phục hồi và tiếp tục “quậy”! Các bài
hát cách mạng câm tiếng. Ngay trong các gia đình cách mạng người ta
cũng chẳng xài sản phẩm của các nhạc sĩ cách mạng.

Của đáng tội cũng có lác đác vài mưu toan chuyển
hướng về nội dung và hình thức, nhưng chúng chưa kịp cất tiếng chào
đời thì giữa hàng ngũ các nhạc sĩ cách mạng của cả hai miền đã diễn
ra cuộc “khỉ vặt lông khỉ”, đành chịu chết từ trong trứng. Trong
trường hợp ấy lẽ tự nhiên quần chúng phải tự đi tìm lấy món ăn tinh
thần hợp “gu” ở chỗ khác.

Đơn giản thế thôi!

Các ông bỏ trận địa thì chúng tôi chiếm! Âu cũng là
một dị bản của quy luật “hủy thể của hủy thể” mác-xít.

Chưa bao giờ cái lý luận “Mác-Lênin-Mao…Chế Thùng”
trong văn nghệ bị thực tế xã hội dồn vào chân tường như những ngày
này, cho dù các nhà “lý luận cùn”, “lý luận cơ hội”, “lý luận ba xu”
uốn cong ba bảy lần cái lưỡi. “Văn nghệ phục vụ Đảng” đã gióng lên
hồi chuông báo tử! Việc ông, ông cứ phán, việc tôi, tôi cứ làm! Văn
nghệ miền Bắc cũng như miền Nam cứ tự do như không khí, kể cả tự do
“loạn xà ngầu”, mặc sức phát triển!

Các “ông trên” cứ việc “uốn nắn”, các biện pháp mạnh
cứ việc áp dụng: đóng cửa, rút giấy phép vài nhà xuất bản, cách chức
ông, này, ông nọ.., văn nghệ vô sản hiển nhiên bị gạt khỏi đời sống
xã hội bởi chính sức mạnh của cuộc sống, bởi chính bánh xe lịch
sử…

Xét cho cùng, chính đây là cuộc “đấu tranh ai thắng
ai” mà chủ nghĩa cộng sản gọi là “diễn biến hòa bình!” Nó không có
tiếng súng, nhưng vô cùng ác liệt khi đảng cộng sản nắm toàn bộ
quyền bính muốn biến đất nước thành một trại lính khổng lồ, biến mọi
công dân thành những người máy ngoan ngoãn, dễ bảo, bắt mọi người
phải suy nghĩ, hành động, yêu thương, thù ghét, đọc sách, xem phim
theo những gì Đảng đã ra “nghị quyết”!

Cuộc chiến không tiếng súng này không thể kết thúc
kiểu Nhân Văn Giai Phẩm những năm 1956-1960 nữa rồi. Vụ án bẩn thỉu
bị cả thế giới lên án đã rành rành là một vết nhơ trong lịch sử mà
chính các vị lãnh đạo giờ đây cũng tránh nhắc tới. Chẳng còn bùa
phép, lý luận nào, dù ông Mác, ông Lê, ông Xít, ông Mao có sống lại
cũng không thể bào chữa cho các sai lầm và tội ác ở hàng loạt các
nước có Đảng Cộng Sản lãnh đạo!

Đã thế, thời cơ ngày càng không thuận lợi.

Phía Bắc, ông hàng xóm to béo, ông anh hai Đặng Tiểu
Bình đã xua quân “dạy cho Việt Nam một bài học.” Phía Tây Nam, đồng
chí Polpot
([40])
được đồng chí Đặng, đồng chí Ceaucescu động viên đã trở mặt đánh
thẳng vào “cái đuôi của Liên Xô”. Anh Ba Duẩn đã hết đường đóng
vai… ba phải mà phải ngả hẳn về phía Liên Xô!

Chính trị xoàng như tôi còn nhận định được tình hình
để kiếm đường sống, huống hồ mấy ông chính trị cơ hội, mấy anh không
đội chung trời với cộng sản ở cả hai miền làm gì mà chẳng tìm cách
thụi những quả đấm ngầm, hoặc “vùng lên” trong mọi lãnh vực? Hèn kém
nhất thì “kệ mẹ sự đời”, tích cực hơn thì tìm đường giã từ cộng sản
bằng cách chuồn ra nước ngoài.

Chính vào thời gian này, giới văn nghệ cách mạng ở
miền Bắc cũng adieu Tổ Quốc nhiều nhất bằng ngả Hải Phòng – Quảng
Ninh – Hong Kong rồi qua Canada, Mỹ, Pháp. Những người còn lại thì
mạnh ai nấy sống, mạnh ai nấy viết và… Wait and See!
([41])

Vâng! Tất cả đã có câu trả lời vào những ngày tôi bắt
đầu viết cuốn hồi ký này, những ngày “tiền đổi mới” rồi “đổi mới”,
những ngày mà vận mệnh dân tộc cùng với nền văn nghệ tả pí lù này sẽ
đi đâu, về đâu, dưới bàn tay chèo lái của mấy ông hoạn lợn, cai đồn
điền!

Đó là những ngày chính những những đồng chí đáng
kính, đáng noi gương ở bên đất tổ của cái tà giáo sống dai như đỉa
nhờ lưỡi lê, họng súng và nhà tù, đã cùng nhân dân hè nhau kéo đổ và
đập nát mọi thần tượng Mác-Lênin xuống, đái ỉa vào chúng và chôn vùi
chúng trong bãi rác lịch sử. Chẳng cần một đế quốc nào mang quân
tới, chẳng đổ một giọt máu nào, (trừ trường hợp vợ chồng bạo chúa
cộng sản Ceaucescu ở nước Rumania), tất cả cái “trường thành cộng
sản”, theo nhau đổ sập cùng với “bức tường ô nhục” Berlin!

Nhân dân ở ngay các hang ổ tà giáo cộng sản đã cùng
đứng lên đòi quyền được sống, được làm việc, được mở miệng… như ở
mọi nước bình thường trên thế giới.

Trong biến cố chính trị lớn nhất lịch sử loài người
này, có một nhân vật mà tôi đặc biệt quan tâm và hết sức cảm phục,
một nhà văn nghệ chống cộng đến cùng, dù bị cầm tù vẫn không ngừng
dùng ngòi bút truyền niềm tin “Chủ nghĩa cộng sản đang giãy chết!”
đến cho mọi người là Vaclav Havel, nhà viết kịch ở Tiệp khắc. Quả là
niềm tin đặt vào ông của tôi không nhầm. Trong lúc ở mọi nước sau
khi mai táng cái xác thối chủ nghĩa cộng sản đều rơi vào những cơn
khủng hoảng kéo dài thì từ nhà tù ra, ông “phải” nhận một nhiệm vụ
bất đắc dĩ: Tổng thống nước Tiệp Khắc, điều mà ông không muốn. Nhưng
trước lòng tin yêu và tín nhiệm tuyệt đối của những nhà chính trị
mọi mầu sắc và của nhân dân, ông đã phải hy sinh nghề cầm bút, đảm
nhiệm nó suốt hai nhiệm kỳ! Thành tích lớn nhất của ông là giải
quyết êm thấm chuyện tách rời hai nước Tchèque và Slovakia mà không
rơi vào thảm cảnh nồi da xáo thịt như ở Nam Tư, Liên Bang Nga bằng
con đường lý luận của… con tim! Hai dân tộc này tách rời về mặt cơ
cấu nhưng về thể chế chính trị thì tách hay không vẫn chẳng kình
chống, hầm hè nhau bao giờ.

Đáng buồn thay cho dân tộc Việt Nam hình đất nước lại
bị “thắt đuôi chuột” mà ông bạn tôi, nhà sử học (giả) kiêm tử vi
tướng số (thật) Trần Quốc Vượng
([42])
đã nói nửa đùa nửa thật:
“Còn lâu! Còn lâu
lắm nước này mới mở mày mở mặt được”.

Lý do theo ông là:

— 1/ Dân mình nghèo quá, khổ quá, chết chóc tang
thương nhiều quá, đặc biệt ít học quá dễ bị “ăn bánh vẽ” nên chẳng
có cách nào làm chuyện thần kỳ biến cuộc mít tinh mừng quốc khánh
cộng sản thành ngày lật đổ một thể chế cai trị bằng súng đạn và nhà
tù như ở Albanie?…

— 2/ Không có đội ngũ “élitisme”
([43])

mà chỉ có dăm ba tay “ê-li-tịt” chẳng ai chịu ai, ai cũng cho mình
là số dzách cả!

Với tôi, tôi xin thêm điều này: Khó thể có gì thay
đổi về chính trị ở cái đất nước này nếu cái ĐÊ NGĂN SÓNG KHỔNG LỒ
phía Bắc, cái nước Trung Hoa vĩ đại, với những tên Tần Thủy Hoàng
hiện đại không sụp đổ.

Thực tế đã trả lời: chẳng có biểu tình, chẳng có đả
đảo, chẳng có một Eltsine nào, càng không thể có một Vaclav Havel
đứng ra kêu gọi dân chúng xuống đường trong cái dịp ngàn năm có một
đó!

Mãi sau này mới xuất hiện vài người như Trần Độ, Đặng
Quốc Bảo, Trần Xuân Bách
([44])
thì lại chưa có cái xe tăng nào để leo lên mà hô hào quay nòng súng
về Nhà Trắng – Viện Duma Nga. Họ chưa kịp làm gì thì đã bị cái “Đảng
cộng sản đổi mới” bịt miệng ngay lập tức!

Vâng! Chính cái Hèn của dân tộc tôi và cái quỷ quyệt
của bọn cầm quyền đầu não dùng cái mê cung Đổi Mới xảo trá có tên
“kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” đã đưa cả dân tộc
Việt Nam tiếp tục sống dưới quyền cai trị độc tài vô học cho tới
những ngày bước sang thế kỷ 21 này.



([1])

Những người này

không hề được vào danh sách đi B để qua năm
bảy cửa duyệt. Họ bám theo các sư đoàn, quân đoàn mới thành
lập vội vã nghiễm nhiên đi B bằng…ôtô, thẳng đường số I,
chẳng cần quyết định của ông Đặng Thí, trưởng ban Thống Nhất
(Tác giả chú thích).


([2])

Lưu trữ trong CD.2


(
[3])
Nhạc và lời
Phạm Tuyên.


([4])
Cách gọi
những cán bộ từ chiến khu (rừng) về.

([5])
Phạm Trọng Cầu (1935-1998). nhạc sĩ nổi tiếng với những ca
khúc Mùa thu không trở lại, Cho con. còn có
bút danh Phạm Trọng, được ông xử dụng tại miền Nam trước
1975.

([6])
Tự học (tiếng Pháp).

([7])
Những bài
tập piano vỡ lòng.

([8])
Joseph-Maurice Ravel (1875-1937), nhạc sĩ sáng tác và danh
cầm piano thuộc dòng nhạc ấn tượng.

([9])
Achille-Claude Debussy (1862-1918) nhạc sĩ sáng tác người
Pháp cùng thời với Ravel.


([10])

Viết tắt tên Tổng Cục Quản Lý Các Trại Cải Tạo Lao Động
Glavnoye Upravleniye
Ispravitelno-trudovykh Lagerey i kolonii.


([11])
George
Gershwin (1898-1937), nhạc sĩ nổi tiếng người Mỹ, những công
trình sáng tác và lý thuyết âm nhạc của ông thường được viết
với sự cộng tác của người anh là Ira Gershwin.


(
[12])

Nhà của tôi (tiếng Pháp).


([13])

Xuân Hồng (1928-1996), nhạc sĩ nhạc “đỏ”,  nổi tiếng
với các ca khúc Bài Ca May Ao, Xuân Chiến Khu, Tiếng Chày
Trên Sóc Bom Bo, Mùa Xuân Trên Thành Phố Hồ Chí Minh, Mùa
Xuân Bên Cửa Sổ


([14])
Bảo Định
Giang (1919-2005) tên thật Nguyễn Thanh Danh, nhà thơ, “nổi
tiếng” với hai câu: Tháp Mười đẹp nhất bông sen / Nước
Nam đẹp nhất có tên Cụ Hồ.


([15])

Azis Nexin (1898-1995), nhà văn châm biếm Thổ Nhĩ Kỳ, được
độc giả Việt Nam biết đến qua tập truyện ngắn

Nếu Tôi Là Đàn Bà.


([16])

Hoàng Tố Nguyên, tên thật Lê Hoàng Mưu (1929-1975), nhà thơ.


([17])

Lưu Quý Kỳ là người phụ trách văn nghệ miền Nam trước năm
1954, nổi tiếng về vụ cấm hát cải lương. Tập kết ra Bắc Lưu
Quý Kỳ giữ chức phó giám đốc Sở Báo Chí.


([18])

Xin tìm đọc bài Đoàn Giỏi chửi ông già Phan
Khôi, hoặc nhật ký Trần Dần, Lê Đạt để thấy cái nông trường
Quảng Ninh của anh em văn nghệ sĩ miền Nam đối xử với nhóm
người bị cải tạo ở đó thế nào (Chú thích của tác giả).


([19])

Paul Joseph Goebbels (1897-1945), bộ trưởng bộ Tuyên Giáo
của Đức từ 1933 đến 1945. Phương châm tuyên truyền của
Goebbels:
“Cứ nói mãi, nói mãi, sự
giả sẽ được tiếp nhận như sự thật”.


([20])


Phạm Trọng Cầu
(1935-1998),
nhạc sĩ, tác giả ca khúc được nhiều người biết đến: Mùa
Thu Không Trở Lại
.


([21])

Hai hoạ sĩ VNCH từng được nhiều giải thưởng ở miền Nam.


([22])

Anh Đức, tên thật Bùi Đức Ái (1935), nhà văn, từng được
nhiều giải thưởng văn học của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam.


([23])

Don Quijote de la Mancha, tên nhân vật hiệp sĩ đánh nhau với
cối xay gió (một công việc vô ích) trong cuốn truyện nổi
danh của


Miguel de Cervantes
Saavedra

(Tây Ban Nha),


([24])
Clark Gable
(1901-1960), diễn viên thượng thặng của điện ảnh Mỹ, được
mệnh danh là “Ông vua Hollywood.


([25])

Lê Yên, tên thật Lê Đình Yên (1917-1998), nhạc sĩ sáng tác,
một trong những nhạc sĩ của dòng tân nhạc đầu tiên ở Việt
Nam.


([26])


Lúc này chưa có máy bay dân dụng ở miền Bắc
mà vẫn phải sử dụng Việt Nam Air Lines của miền Nam, do phi
công “ngụy” lái.


([27])


Đỗ Mười (1917) tổng bí thư ĐCSVN từ 1991 đến
1997.


([28])

Nikolai Vasilievich Gogol (1809-1852) nhà văn Nga gốc
Ukraina


([29])

Alexander Sergeevich Pushkin (1799-1837), nhà thơ lớn trong
lịch sử văn học Nga.


([30])
Lev
Nikolayevich Tolstoy (1828-1910), một trong những nhà văn
lớn nhất trong lịch sử văn học Nga.


([31])

Anton Pavlovich Chekhov (1860-1904), nhà văn, nhà soạn kịch,
được coi như một trong những nhà văn chuyên viết truyện ngắn
vĩ đại nhất trong lịch sử văn học thế giới.


([32])

Albert Camus (1913-1960), nhà báo, triết gia người Pháp gốc
Algeria, khôi nguyên Nobel năm 1957


([33])

Alain Robbe-Grillet (1922-2008), nhà văn, đạo diễn người
Pháp, một trong những người đi đầu trong trường phái Tân
Tiểu Thuyết; được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp năm 2004.


([34])
Từ marmite
(nồi cơm, tiếng Pháp), nhái âm Marxisme.


([35])
Thời tổng
bí thư Nguyễn Văn Linh cho phép tư nhân buôn bán, hành nghề
(1985).


([36])
Nguyễn Văn
Linh, tên thật Nguyễn Văn Cúc, bí danh Mười Cúc
(1915-1998), tổng bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam từ 1986 đến
1991.


([37])
Tiếng Pháp:
Tuyau = nguồn riêng, “cửa” (tiếng lóng mới).


([38])
Ernest
Miller Hemingway (1899-1961), nhà văn, nhà báo nổi tiếng
người Mỹ.


([39])
Au revoir =
Chào từ biệt –– tiếng Pháp.


([40])

Polpot, tên thật là Saloth Sar (1925-1998), lãnh tụ cộng sản
Cam Bốt (Khmer Đỏ), thủ tướng nước Kmer Dân Chủ từ 1976 đến
1979.


([41])

Chờ xem ! (tiếng Anh).


(
[42])

Trần Quốc Vượng (1934-2005), giáo sư, nhà sử học.


(
[43])

Élitisme, tiếng Pháp chỉ tầng lớp tinh hoa của một đất
nước.


([44])
Trần Xuân
Bách, tên thật Nguyễn Thiện Tuấn (1924-2006), từng giữ nhiều
chức vụ quan trọng trong ban lãnh đạo ĐCS, có thời làm uỷ
viên Bộ Chính Trị. Bị khai trừ khỏi mọi chức vụ vào năm 1990
vì những phát biểu đòi hỏi phải có một thể chế xã hội khác
thể chế hiện hành, đa nguyên, đa đảng.



Mục lục